Mục lục bài họcĐang ở d09-b4
The Balance of Payments and Correcting Imbalances
Structure
The balance of payments records all transactions between residents of a country and the rest of the world over a year. The current account contains trade in goods (visible balance), trade in services, primary income (wages, interest, profits and dividends flowing between countries) and secondary income (transfers such as remittances and aid). The capital account is small (capital transfers, sale of non-produced assets). The financial account records foreign direct investment, portfolio investment, other investment such as bank loans, and changes in official reserves. Because every transaction has two sides, the accounts must sum to zero once net errors and omissions are included: a current account deficit is matched by a net inflow on the financial account, i.e. borrowing from abroad or selling assets to foreigners.
Causes and consequences of a current account deficit
Causes: an overvalued exchange rate, high domestic inflation reducing competitiveness, low productivity and poor non-price competitiveness, a consumer boom that sucks in imports (high marginal propensity to import), a deteriorating terms of trade for commodity exporters, and structural decline of key industries. A deficit financed by FDI may be benign; a persistent deficit financed by short-term borrowing raises external debt, puts downward pressure on the currency, may require higher interest rates and represents a leakage from the circular flow.
Policies to correct a deficit
Expenditure-switching policies change the relative price of imports and exports: devaluation or depreciation, tariffs and quotas. Expenditure-reducing policies cut aggregate demand and hence imports: contractionary fiscal or monetary policy, at the cost of lower output and higher unemployment. Supply-side policies raise long-run competitiveness but act slowly. A depreciation improves the current account only if the Marshall-Lerner condition holds:
$$|PED_X| + |PED_M| > 1$$Because elasticities are low in the short run (contracts, search costs), the balance worsens first and improves later: the J-curve. Depreciation also raises import prices and may feed inflation, eroding the gain.
Cán cân thanh toán ghi mọi giao dịch giữa cư dân trong nước và thế giới trong một năm. Tài khoản vãng lai gồm bốn dòng: hàng hoá, dịch vụ, thu nhập sơ cấp (lương, lãi, lợi nhuận, cổ tức chảy qua biên giới) và thu nhập thứ cấp (kiều hối, viện trợ). Tài khoản vốn nhỏ. Tài khoản tài chính ghi FDI, đầu tư gián tiếp, vay nợ ngân hàng và thay đổi dự trữ chính thức. Tổng các tài khoản cộng sai số bằng không: thâm hụt vãng lai được bù bằng dòng vào ròng trên tài khoản tài chính, nghĩa là vay nước ngoài hoặc bán tài sản cho người nước ngoài. Câu phân loại giao dịch hỏi hai việc: thuộc tài khoản nào và ghi có hay ghi nợ (tiền vào là có).
Thâm hụt vãng lai có thể do tỉ giá định giá quá cao, lạm phát cao làm mất sức cạnh tranh, năng suất thấp, bùng nổ tiêu dùng hút nhập khẩu, tỉ lệ trao đổi xấu đi hay ngành chủ lực suy thoái. Câu đánh giá tốt hỏi thâm hụt do đâu và được tài trợ bằng gì: thâm hụt vì nhập máy móc và được FDI tài trợ thì không đáng lo; thâm hụt vì tiêu dùng và được tài trợ bằng vay ngắn hạn thì nợ tích luỹ, đồng tiền chịu áp lực và phải tăng lãi suất.
Ba nhóm chính sách: chuyển hướng chi tiêu (phá giá, thuế quan) đổi giá tương đối; giảm chi tiêu (thắt chặt tài khoá, tiền tệ) hạ tổng cầu và nhập khẩu với cái giá là thất nghiệp; trọng cung chữa tận gốc nhưng chậm. Phá giá chỉ cải thiện cán cân khi tổng độ co giãn cầu xuất và nhập lớn hơn 1 (Marshall–Lerner); vì ngắn hạn độ co giãn thấp, cán cân xấu đi trước rồi mới tốt lên theo hình chữ J, và giá nhập khẩu tăng còn có thể gây lạm phát ăn mòn lợi ích.
Số liệu của nước N trong một năm (tỉ đô la): xuất khẩu hàng hoá $210$; nhập khẩu hàng hoá $265$; xuất khẩu dịch vụ $80$; nhập khẩu dịch vụ $55$; thu nhập sơ cấp ròng $-12$; thu nhập thứ cấp ròng $+7$; tài khoản vốn $+1$; sai số ròng $0$. Độ co giãn của cầu theo giá: xuất khẩu $0{,}3$ và nhập khẩu $0{,}5$ trong sáu tháng đầu, $0{,}9$ và $0{,}8$ sau hai năm. (i) Tính cán cân thương mại hàng hoá, cán cân vãng lai và số dư tài khoản tài chính. (ii) Nếu N phá giá $10\%$, cán cân vãng lai thay đổi thế nào trong ngắn và dài hạn?
Bước 1 — cán cân hàng hoá $= 210 - 265 = -55$ tỉ. Cán cân dịch vụ $= 80 - 55 = +25$ tỉ.
Bước 2 — cán cân vãng lai.
$$-55 + 25 - 12 + 7 = -35 \text{ tỉ}$$Thâm hụt vãng lai $\$35$ tỉ.
Bước 3 — tài khoản tài chính. Tổng phải bằng không: vãng lai $+$ vốn $+$ tài chính $+$ sai số $= 0$, nên tài chính $= 35 - 1 = +34$ tỉ, tức dòng vốn vào ròng $\$34$ tỉ (vay nước ngoài, FDI vào, hoặc dự trữ giảm). Đây là phần bù, không phải "thu nhập".
Bước 4 — Marshall–Lerner ngắn hạn. $0{,}3 + 0{,}5 = 0{,}8 < 1$: phá giá làm cán cân xấu đi. Trực giác: giá nhập khẩu bằng nội tệ tăng $10\%$ trong khi lượng nhập chỉ giảm $5\%$, chi nhập khẩu tăng; lượng xuất chỉ tăng $3\%$, chưa đủ bù. Đây là đoạn xuống của đường J.
Bước 5 — dài hạn. $0{,}9 + 0{,}8 = 1{,}7 > 1$: điều kiện thoả, cán cân cải thiện. Mức cải thiện còn tuỳ lạm phát nhập khẩu có làm giá trong nước tăng và xoá bớt lợi thế giá hay không, và tuỳ doanh nghiệp xuất khẩu có công suất để đáp ứng lượng cầu tăng hay không.
Đọc xong rồi — làm thử ngay
Bài tập của chương International Trade, Exchange Rates and the Balance of Payments gồm 14 câu trắc nghiệm và 4 đề tự luận. Đáp án hiện ngay khi chọn, miễn phí.