Mục lục bài họcĐang ở d08-b1
Fiscal Policy: Taxation, Spending and the Budget
Taxation
Fiscal policy is the use of government spending and taxation to influence aggregate demand and the allocation of resources. Direct taxes are levied on income or wealth and paid by the person on whom they are imposed (income tax, corporation tax); indirect taxes are levied on spending and can be passed on (VAT, excise duties). A tax is progressive if the average rate rises with income, proportional if the average rate is constant, and regressive if the average rate falls as income rises. The marginal rate is the tax on an extra unit of income; the average rate is total tax divided by total income. A good tax follows the canons of equity, certainty, convenience and economy, and should not distort incentives excessively. The Laffer curve suggests that beyond some rate, higher tax rates reduce revenue as effort, enterprise and compliance fall.
Spending, the budget and the debt
Government spending is current (wages, benefits), capital (infrastructure) or transfer payments. The budget balance is revenue minus spending in a year: a deficit must be financed by borrowing, adding to the national debt, the accumulated stock of past deficits. The cyclical deficit arises from the business cycle; the structural deficit would remain even at full employment and is the true measure of fiscal stance.
$$\text{debt-to-GDP ratio} = \frac{\text{national debt}}{\text{nominal GDP}} \times 100$$Discretionary policy and automatic stabilisers
Discretionary fiscal policy is a deliberate change in tax rates or spending programmes. Automatic stabilisers work without any decision: in a recession tax revenue falls and benefit spending rises, cushioning the fall in disposable income; in a boom the reverse. Expansionary policy (lower taxes, higher spending) shifts AD right; its effect on real GDP depends on the multiplier and on where the economy sits on the AS curve. Limitations: time lags (recognition, decision, implementation, effect), crowding out when government borrowing raises interest rates and reduces private investment, political constraints, and the burden of debt interest on future taxpayers.
Thuế
Chính sách tài khoá là việc dùng chi tiêu công và thuế để tác động tới tổng cầu và phân bổ nguồn lực. Thuế trực thu đánh vào thu nhập hay của cải và do chính người bị đánh thuế nộp (thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp); thuế gián thu đánh vào chi tiêu và có thể chuyển sang người khác (VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt). Thuế luỹ tiến nếu thuế suất bình quân tăng theo thu nhập, tỉ lệ nếu bình quân không đổi, luỹ thoái nếu bình quân giảm khi thu nhập tăng. Chú ý: thuế luỹ thoái không có nghĩa số tiền thuế giảm, chỉ là tỉ lệ trên thu nhập giảm; VAT là ví dụ vì người nghèo tiêu gần hết thu nhập. Thuế suất biên là thuế trên một đơn vị thu nhập thêm; thuế suất bình quân là tổng thuế chia tổng thu nhập, và luỹ tiến chỉ đòi bình quân tăng, không đòi biên tăng ở mọi bậc. Thuế tốt theo bốn nguyên tắc: công bằng, chắc chắn, thuận tiện, tiết kiệm chi phí thu, và không bóp méo động cơ quá mức. Đường Laffer cho rằng vượt qua một thuế suất nào đó, tăng thuế suất làm tổng thu giảm vì nỗ lực làm việc, kinh doanh và tuân thủ đều giảm.
Chi tiêu, ngân sách và nợ công
Chi tiêu công gồm chi thường xuyên (lương, trợ cấp), chi đầu tư (hạ tầng) và chuyển giao. Cán cân ngân sách là thu trừ chi trong một năm: thâm hụt phải được tài trợ bằng vay nợ và làm tăng nợ công, là tích luỹ của các thâm hụt quá khứ. Thâm hụt là dòng, nợ là kho: ngân sách có thể thâm hụt nhỏ hơn mà nợ vẫn tăng. Thâm hụt chu kỳ do suy thoái gây ra và tự biến mất khi phục hồi; thâm hụt cơ cấu tồn tại cả khi toàn dụng và là thước đo thật của lập trường tài khoá. Tỉ lệ nợ trên GDP quan trọng hơn con số nợ tuyệt đối, và nó giảm được ngay cả khi có thâm hụt nếu GDP danh nghĩa tăng nhanh hơn nợ.
Chính sách chủ động và ổn định tự động
Chính sách tài khoá chủ động là thay đổi có chủ ý về thuế suất hay chương trình chi tiêu. Ổn định tự động vận hành không cần ai quyết định: trong suy thoái thu thuế giảm (thuế luỹ tiến) và chi trợ cấp tăng, đỡ cho thu nhập khả dụng; trong bùng nổ thì ngược lại. Chính sách mở rộng (giảm thuế, tăng chi) dịch AD sang phải; hiệu quả lên GDP thực phụ thuộc số nhân và vị trí trên đường AS. Hạn chế: độ trễ (nhận biết, quyết định, thực thi, tác động), chèn lấn khi chính phủ vay làm lãi suất tăng và đầu tư tư nhân giảm, ràng buộc chính trị, và gánh lãi nợ lên người nộp thuế tương lai.
Biểu thuế thu nhập của một nước: $10{,}000$ đầu tiên miễn thuế; từ $10{,}001$ đến $40{,}000$ chịu $20\%$; phần trên $40{,}000$ chịu $40\%$. Tính số thuế, thuế suất bình quân và thuế suất biên của hai người có thu nhập \$30{,}000 và \$60{,}000. Hệ thống này luỹ tiến hay không?
Người A — \$30{,}000. Phần chịu thuế là $30{,}000 - 10{,}000 = 20{,}000$ ở bậc $20\%$.
$$T_A = 0{,}20 \times 20{,}000 = 4{,}000, \qquad \text{bình quân} = \frac{4{,}000}{30{,}000} \approx 13{,}3\%, \qquad \text{biên} = 20\%$$Người B — \$60{,}000. Bậc $20\%$ áp cho $30{,}000$ (từ $10{,}001$ tới $40{,}000$), bậc $40\%$ áp cho $20{,}000$ còn lại.
$$T_B = 0{,}20\times30{,}000 + 0{,}40\times20{,}000 = 6{,}000+8{,}000 = 14{,}000, \qquad \text{bình quân} = \frac{14{,}000}{60{,}000} \approx 23{,}3\%, \qquad \text{biên} = 40\%$$Kết luận. Thuế suất bình quân tăng từ $13{,}3\%$ lên $23{,}3\%$ khi thu nhập tăng, nên hệ thống luỹ tiến. Hai điều hay bị nhầm: thứ nhất, người B không nộp $40\%$ trên toàn bộ $60{,}000$ (tức $24{,}000$) — thuế suất biên chỉ áp cho phần vượt ngưỡng; thứ hai, thuế suất biên luôn cao hơn bình quân trong hệ thống luỹ tiến, và chính khoảng cách này là cái làm giảm động cơ làm thêm giờ mà đường Laffer nhắc tới.
Nước P có GDP danh nghĩa $1{,}000$ tỉ và nợ công $600$ tỉ đầu năm. Ngân sách năm nay thâm hụt $50$ tỉ. Các nhà kinh tế ước tính rằng nếu nền kinh tế ở mức toàn dụng, thu thuế sẽ cao hơn $30$ tỉ và chi trợ cấp thấp hơn $10$ tỉ. GDP danh nghĩa cuối năm là $1{,}050$ tỉ. Tính thâm hụt chu kỳ, thâm hụt cơ cấu và tỉ lệ nợ trên GDP đầu và cuối năm.
Bước 1 — tách thâm hụt. Phần do suy thoái gây ra là phần sẽ biến mất khi toàn dụng: thu thuế hụt $30$ cộng trợ cấp tăng $10$.
$$\text{thâm hụt chu kỳ} = 30 + 10 = 40, \qquad \text{thâm hụt cơ cấu} = 50 - 40 = 10$$Chỉ $10$ tỉ là thâm hụt "thật", tức chính phủ đang chi vượt thu ngay cả khi kinh tế khoẻ; $40$ tỉ còn lại là ổn định tự động đang vận hành và sẽ tự hết.
Bước 2 — tỉ lệ nợ. Đầu năm: $600/1{,}000 = 60\%$. Cuối năm nợ là $600+50 = 650$ trên GDP $1{,}050$.
$$\frac{650}{1{,}050}\times100 \approx 61{,}9\%$$Bước 3 — đọc kết quả. Tỉ lệ nợ chỉ tăng $1{,}9$ điểm dù thâm hụt $5\%$ GDP, vì GDP danh nghĩa tăng $5\%$ đã "pha loãng" nợ. Nếu GDP danh nghĩa tăng $8{,}3\%$ (lên $1{,}083$), tỉ lệ sẽ đứng yên ở $60\%$ dù vẫn thâm hụt. Đây là lý do một bài đánh giá về nợ công phải bàn tới tăng trưởng và lạm phát chứ không chỉ tới cắt giảm chi tiêu; và là lý do cắt chi tiêu quá mạnh trong suy thoái có thể làm tỉ lệ nợ tăng nếu GDP rơi nhanh hơn nợ.
Đọc xong rồi — làm thử ngay
Bài tập của chương Fiscal and Monetary Policy gồm 14 câu trắc nghiệm và 4 đề tự luận. Đáp án hiện ngay khi chọn, miễn phí.