Mục lục bài họcĐang ở d07-b4
The Phillips Curve and the Business Cycle
The original Phillips curve
Phillips observed a stable inverse relationship between the rate of unemployment and the rate of wage (and hence price) inflation: the short-run Phillips curve (SRPC) slopes downwards. It seemed to offer governments a menu: buy lower unemployment with a little more inflation by expanding aggregate demand. The mechanism is demand-pull: higher AD raises output and employment and bids up prices and wages.
The expectations-augmented Phillips curve
Friedman and Phelps argued that each SRPC is drawn for a given expected rate of inflation. Expansion moves the economy up the SRPC only while workers are fooled: real wages have fallen, so firms hire more. Once workers revise expectations upwards under adaptive expectations, they demand higher money wages, real wages return to their old level, employment falls back to the natural rate and the SRPC shifts upwards. The long-run Phillips curve (LRPC) is therefore vertical at the natural rate of unemployment (also called the NAIRU, the non-accelerating inflation rate of unemployment): there is no long-run trade-off, only accelerating inflation. Under rational expectations the shift is immediate and even the short-run gain disappears. Reducing unemployment permanently requires shifting the LRPC left with supply-side policy; reducing inflation requires a period of unemployment above the natural rate unless the central bank's commitment is credible.
The business cycle
Actual real GDP fluctuates around its trend in a business (trade) cycle of boom, downturn, recession (technically two successive quarters of falling real GDP) and recovery. In a boom the output gap is positive, unemployment is below the natural rate and inflation accelerates; in a recession the gap is negative, cyclical unemployment appears and inflation falls. Explanations include the interaction of the multiplier and accelerator, stock (inventory) cycles, swings in confidence, external shocks and policy errors. Indicators are classed as leading (new orders, building permits, share prices), coincident (industrial output) or lagging (unemployment, which keeps rising after recovery has begun).
Đường Phillips ban đầu
Phillips quan sát thấy một quan hệ nghịch ổn định giữa tỉ lệ thất nghiệp và tỉ lệ tăng lương (do đó tăng giá): đường Phillips ngắn hạn (SRPC) dốc xuống. Nó như một thực đơn cho chính phủ: đổi một ít lạm phát lấy thất nghiệp thấp hơn bằng cách kích tổng cầu. Cơ chế là cầu kéo: AD cao hơn nâng sản lượng và việc làm, đồng thời đẩy giá và lương lên.
Đường Phillips có kỳ vọng
Friedman và Phelps lập luận rằng mỗi SRPC được vẽ cho một mức lạm phát kỳ vọng nhất định. Kích cầu đưa nền kinh tế đi lên dọc SRPC chỉ khi người lao động còn bị "đánh lừa": lương thực đã giảm nên doanh nghiệp thuê thêm. Khi người lao động điều chỉnh kỳ vọng theo kỳ vọng thích nghi, họ đòi lương danh nghĩa cao hơn, lương thực trở về mức cũ, việc làm tụt về tỉ lệ tự nhiên và SRPC dịch lên trên. Đường Phillips dài hạn (LRPC) vì thế thẳng đứng tại tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên (còn gọi là NAIRU, tỉ lệ thất nghiệp không làm lạm phát tăng tốc): dài hạn không có đánh đổi, chỉ có lạm phát tăng tốc. Với kỳ vọng hợp lý, SRPC dịch ngay lập tức và ngay cả lợi ích ngắn hạn cũng biến mất. Muốn giảm thất nghiệp lâu dài phải dịch LRPC sang trái bằng chính sách phía cung; muốn giảm lạm phát phải chịu một thời kỳ thất nghiệp cao hơn tỉ lệ tự nhiên, trừ khi cam kết của ngân hàng trung ương đủ tin cậy để kỳ vọng hạ ngay.
Chu kỳ kinh doanh
GDP thực thực tế dao động quanh đường xu hướng theo chu kỳ kinh doanh: bùng nổ, đi xuống, suy thoái (kỹ thuật: hai quý liên tiếp GDP thực giảm) và phục hồi. Trong bùng nổ, khoảng cách sản lượng dương, thất nghiệp dưới tỉ lệ tự nhiên và lạm phát tăng tốc; trong suy thoái, khoảng cách âm, xuất hiện thất nghiệp chu kỳ và lạm phát giảm. Giải thích: tương tác số nhân – gia tốc, chu kỳ hàng tồn kho, dao động niềm tin, cú sốc bên ngoài và sai lầm chính sách. Chỉ báo chia ba loại: dẫn trước (đơn hàng mới, giấy phép xây dựng, giá cổ phiếu), đồng thời (sản lượng công nghiệp) và đi sau (thất nghiệp, vẫn tăng thêm một thời gian sau khi phục hồi đã bắt đầu).
Số liệu của một nước:
| Năm | 1 | 2 | 3 | 4 |
|---|---|---|---|---|
| Thất nghiệp (%) | 6 | 4 | 4 | 6 |
| Lạm phát (%) | 2 | 5 | 8 | 8 |
Dùng đường Phillips có kỳ vọng để giải thích diễn biến từng năm và cho biết tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên của nước này có thể là bao nhiêu.
Năm 1 → 2. Thất nghiệp giảm $2$ điểm, lạm phát tăng $3$ điểm: nền kinh tế trượt lên dọc một SRPC. Đây là phản ứng kinh điển với kích cầu khi kỳ vọng lạm phát còn ở $2\%$.
Năm 2 → 3. Thất nghiệp giữ nguyên ở $4\%$ nhưng lạm phát tiếp tục lên $8\%$. Không có sự đánh đổi nào ở đây: điểm mới nằm thẳng trên điểm cũ, tức SRPC đã dịch lên vì kỳ vọng lạm phát điều chỉnh theo $5\%$ của năm 2. Muốn giữ thất nghiệp $4\%$ chính phủ đã phải chấp nhận lạm phát tăng tốc.
Năm 3 → 4. Thất nghiệp trở về $6\%$ trong khi lạm phát vẫn $8\%$: kỳ vọng đã bắt kịp hoàn toàn, lương thực trở về mức cũ, việc làm rơi về mức tự nhiên. Nền kinh tế đã đi từ điểm $A$ qua $B$ về $C$ như trên hình.
Tỉ lệ tự nhiên. Hai lần thất nghiệp ở $6\%$ đều ứng với trạng thái lạm phát không tăng tốc (năm 1 ổn định ở $2\%$, năm 4 ổn định ở $8\%$), nên $6\%$ là ước lượng hợp lý cho tỉ lệ tự nhiên. Ở $4\%$ lạm phát luôn tăng tốc, nên $4\%$ nằm dưới tỉ lệ tự nhiên. Kết luận chính sách: bốn năm kích cầu mua được hai năm thất nghiệp thấp và để lại lạm phát cao gấp bốn lần.
Đọc xong rồi — làm thử ngay
Bài tập của chương Inflation, Unemployment, Money and the Business Cycle gồm 14 câu trắc nghiệm và 4 đề tự luận. Đáp án hiện ngay khi chọn, miễn phí.