Mục lục bài họcĐang ở d03-b3
← A-Level Psychology
0/30 bài đã học xong
Chương 3 · Data Analysis and Statistics · Bài 3/3 của chương · bài 9/30 của A-Level Psychology

Correlation, observation and self-report analysis

Tương quan, quan sát và phân tích dữ liệu tự báo cáo
← Mục lục bài học
Lý thuyết · English

Correlation

A correlation measures the strength and direction of a relationship between two co-variables, from $-1$ through $0$ to $+1$. Positive means both rise together; negative means one rises as the other falls; near zero means no linear relationship. Plot it as a scattergram.

The rule everyone quotes and few apply

Correlation does not establish cause. Three reasons, and an answer that gives all three earns full marks: the causal direction may run the other way; a third variable may cause both; and the relationship may be coincidence, especially with a small sample. Say which third variable might be operating in the study in front of you — that is what separates a memorised line from an analysis.

Observation data

Behavioural categories must be defined so precisely that two observers code the same event the same way; vague categories destroy reliability. Event sampling counts every occurrence of a behaviour; time sampling records what is happening at fixed intervals — cheaper, but it misses behaviour between the intervals. Inter-rater reliability is checked by correlating two observers' records.

Self-report data

Closed questions give quantitative data that is quick to analyse but forces answers into fixed boxes; open questions give qualitative depth but are slow and subjective to analyse. Both suffer social desirability bias, and leading questions damage validity.

Analysing qualitative data

Thematic analysis codes the text and groups codes into themes, keeping meaning that a number would lose. Its weakness is subjectivity, reduced by having a second researcher code independently and by reporting the coding rules.

Giải thích tiếng Việt

Tương quan

Tương quan đo độ mạnh và chiều của mối liên hệ giữa hai biến đồng hành, chạy từ $-1$ qua $0$ tới $+1$. Dương nghĩa là cả hai cùng tăng; âm nghĩa là một tăng thì cái kia giảm; gần $0$ nghĩa là không có liên hệ tuyến tính. Vẽ bằng biểu đồ phân tán.

Câu ai cũng thuộc mà ít người dùng đúng

Tương quan không xác lập quan hệ nhân quả. Có ba lý do, và bài nêu đủ cả ba mới trọn điểm: chiều nhân quả có thể ngược lại; một biến thứ ba có thể gây ra cả hai; và mối liên hệ có thể chỉ là trùng hợp, nhất là khi mẫu nhỏ. Hãy nói RÕ biến thứ ba nào có thể đang tác động trong chính nghiên cứu trước mặt — đó là thứ tách một câu học thuộc khỏi một bài phân tích.

Dữ liệu quan sát

Danh mục hành vi phải được định nghĩa chính xác tới mức hai người quan sát mã hoá cùng một sự việc giống hệt nhau; danh mục mơ hồ phá huỷ độ tin cậy. Lấy mẫu theo sự kiện đếm mọi lần hành vi xuất hiện; lấy mẫu theo thời gian ghi lại chuyện đang diễn ra tại các mốc cố định — rẻ hơn, nhưng bỏ sót hành vi giữa hai mốc. Độ tin cậy giữa người quan sát được kiểm bằng cách tính tương quan giữa bản ghi của hai người.

Dữ liệu tự báo cáo

Câu hỏi đóng cho dữ liệu định lượng, phân tích nhanh nhưng ép câu trả lời vào các ô có sẵn; câu hỏi mở cho chiều sâu định tính nhưng phân tích chậm và mang tính chủ quan. Cả hai đều dính thiên lệch mong muốn xã hội, và câu hỏi dẫn dắt thì làm hỏng độ giá trị.

Phân tích dữ liệu định tính

Phân tích chủ đề mã hoá văn bản rồi gom các mã thành chủ đề, giữ lại ý nghĩa mà một con số sẽ làm mất. Điểm yếu là tính chủ quan, giảm bớt bằng cách để một nhà nghiên cứu thứ hai mã hoá độc lập và bằng cách công bố quy tắc mã hoá.

Ví dụ — đọc một hệ số tương quan cho đúng

Một nghiên cứu trên $200$ thiếu niên tìm thấy tương quan $r_s = +0{,}42$ ($p \lt 0{,}01$) giữa số giờ dùng mạng xã hội mỗi ngày và điểm trên thang lo âu.

Kết luận nào rút ra được và kết luận nào KHÔNG?

Giải.

Rút ra được. Có một liên hệ dương ở mức trung bình: thiếu niên dùng mạng xã hội nhiều hơn có xu hướng ghi điểm lo âu cao hơn. Kết quả có ý nghĩa ở mức $p\lt0{,}01$, tức khả năng do may rủi dưới $1\%$ — với $N=200$ thì đây là bằng chứng vững về sự tồn tại của liên hệ.

Cũng nên nói thêm về độ mạnh. $r_s=+0{,}42$ giải thích được chưa tới một phần năm biến thiên; phần lớn khác biệt về lo âu giữa các thiếu niên vẫn do những thứ khác. ‘Có ý nghĩa’ và ‘mạnh’ là hai chuyện khác nhau, và mẫu lớn khiến ngay cả liên hệ yếu cũng đạt ý nghĩa.

KHÔNG rút ra được: mạng xã hội gây ra lo âu. Ba lý do cụ thể cho chính nghiên cứu này:

1. Chiều ngược lại hoàn toàn hợp lý: thiếu niên đang lo âu có thể tìm tới mạng xã hội như cách né tránh hoặc tìm trấn an, nên lo âu gây ra thời lượng sử dụng chứ không phải ngược lại.

2. Biến thứ ba: thiếu ngủ có thể gây ra cả hai — ngủ ít làm tăng lo âu, và cũng làm tăng thời gian nằm lướt điện thoại ban đêm. Cô lập một khu vực bị bắt nạt trên mạng hay hoàn cảnh gia đình cũng là những ứng viên.

3. Cách đo: thời lượng sử dụng là tự báo cáo nên dính thiên lệch nhớ lại, và người đang lo âu có thể ước lượng thời gian của mình khác đi.

Muốn kết luận nhân quả thì cần thiết kế thực nghiệm hoặc nghiên cứu theo chiều dọc — ví dụ đo lo âu trước, phân ngẫu nhiên nhóm giảm thời lượng sử dụng, rồi đo lại.

Bẫy hay mất điểm — Viết “tương quan không chứng minh nhân quả” rồi dừng lại. Câu đó ai cũng viết được nên gần như không có điểm phân loại. Điểm nằm ở chỗ nêu ĐÍCH DANH một biến thứ ba khả dĩ trong nghiên cứu đang xét và giải thích nó tác động lên cả hai biến thế nào.
Phải nhớ — Đọc hệ số tương quan theo hai chiều: chiều (dấu) và độ mạnh (trị tuyệt đối), rồi tách riêng chuyện ý nghĩa thống kê. Với quan sát, chìa khoá là danh mục hành vi định nghĩa chặt; với tự báo cáo, chìa khoá là thiên lệch mong muốn xã hội và câu hỏi dẫn dắt.

Đọc xong rồi — làm thử ngay

Bài tập của chương Data Analysis and Statistics gồm 14 câu trắc nghiệm và 3 đề tự luận. Đáp án hiện ngay khi chọn, miễn phí.

Làm bài tập chương →