Mục lục bài họcĐang ở d01-b4
Multinational Companies, Globalisation and Corporate Social Responsibility
Why firms become multinational. A multinational company owns or controls production in more than one country. Firms expand abroad to reach new markets when the domestic market is saturated; to lower costs through cheaper labour, land or energy; to get inside trade barriers, since producing within a bloc avoids its tariffs; to secure raw materials at source; to spread risk across economies that do not move together; and, in some cases, to locate profit in low-tax jurisdictions.
What the host country gains. Employment, often at wages above the local average; tax revenue and foreign exchange from exports; transfer of technology and management skills that spread as staff move to local firms; infrastructure such as roads, power and port capacity built for the project; more competition, which lowers prices and widens choice; and growth for domestic suppliers drawn into the supply chain.
What the host country risks. Profits repatriated to the parent rather than reinvested locally. Transfer pricing, where the group sets the prices of internal transactions so that profit appears in low-tax countries, means actual tax receipts can be far below what the scale of operations suggests. Local firms may be driven out by superior scale and brand. Labour and environmental standards may be lower than those the same firm accepts at home. Capital is footloose: a plant can close and move when incentives expire or another country offers more. And heavy dependence on one large investor narrows a government's policy freedom.
The evaluation that earns marks. The balance is not fixed. It turns on the regulatory capacity of the host: whether labour and environmental law is actually enforced, whether transfer-pricing rules exist, and whether investment agreements attach binding conditions on local sourcing, training and technology transfer. The same company in two countries can produce opposite outcomes, which is why an answer that simply lists benefits and costs and then declares multinationals good or bad scores poorly.
Two views of corporate social responsibility. The shareholder view, associated with Milton Friedman, holds that a firm's only responsibility is to maximise profit within the rules of law and ethical custom — a qualification frequently omitted when the view is quoted. Its serious argument is that managers spending shareholders' money on social causes are spending money they were not authorised to spend, and that they have no democratic mandate to decide social priorities. The stakeholder view holds that firms use common resources and create externalities, so they owe duties to employees, communities and the environment as well as to owners.
The instrumental case, and greenwashing. In an exam the strongest argument for corporate social responsibility is instrumental rather than moral: it can pay for itself through employee retention, brand differentiation, lower regulatory and boycott risk, and easier access to investors who screen on such criteria. That reframes the question from a trade-off into a possible alignment. The counter-risk is greenwashing — claiming more than is done — which, once exposed, damages the brand more than never having made the claim.
Vì sao doanh nghiệp trở thành đa quốc gia. Công ty đa quốc gia là công ty sở hữu hoặc kiểm soát hoạt động sản xuất ở nhiều hơn một quốc gia. Doanh nghiệp mở rộng ra nước ngoài để tiếp cận thị trường mới khi thị trường trong nước đã bão hoà; để hạ chi phí nhờ lao động, đất đai hoặc năng lượng rẻ hơn; để lọt vào bên trong hàng rào thương mại, vì sản xuất trong một khối thì tránh được thuế quan của khối đó; để bảo đảm nguồn nguyên liệu tại gốc; để phân tán rủi ro giữa các nền kinh tế không biến động cùng nhịp; và trong một số trường hợp, để đặt lợi nhuận vào nơi có thuế suất thấp.
Nước sở tại được gì. Việc làm, thường với mức lương cao hơn mặt bằng địa phương; nguồn thu thuế và ngoại tệ từ xuất khẩu; chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý, lan ra khi nhân sự chuyển sang doanh nghiệp nội; hạ tầng như đường sá, điện và cảng được xây cho dự án; cạnh tranh tăng làm giá giảm và lựa chọn rộng ra; và các nhà cung ứng trong nước lớn lên khi được kéo vào chuỗi cung ứng.
Nước sở tại chịu rủi ro gì. Lợi nhuận được chuyển về công ty mẹ thay vì tái đầu tư tại chỗ. Chuyển giá — tập đoàn định giá các giao dịch nội bộ sao cho lợi nhuận hiện ra ở nước có thuế suất thấp — khiến thu thuế thực tế có thể thấp hơn rất nhiều so với quy mô hoạt động. Doanh nghiệp nội có thể bị đè bẹp bởi quy mô và thương hiệu vượt trội. Tiêu chuẩn lao động và môi trường có thể thấp hơn tiêu chuẩn mà chính công ty đó chấp nhận ở nước mẹ. Vốn dễ rút: nhà máy có thể đóng cửa và chuyển đi khi ưu đãi hết hạn hoặc khi nước khác chào điều kiện tốt hơn. Và việc phụ thuộc nặng vào một nhà đầu tư lớn làm hẹp không gian chính sách của chính phủ.
Phần đánh giá lấy được điểm. Cán cân không cố định. Nó phụ thuộc vào năng lực quản lý nhà nước của nước sở tại: luật lao động và luật môi trường có thực sự được thực thi không, có quy định về chuyển giá không, và thoả thuận đầu tư có gắn điều kiện ràng buộc về nội địa hoá, đào tạo và chuyển giao công nghệ hay không. Cùng một công ty đặt ở hai nước có thể cho hai kết quả trái ngược, nên bài chỉ liệt kê lợi ích và chi phí rồi tuyên bố công ty đa quốc gia là tốt hay xấu sẽ bị điểm thấp.
Hai quan điểm về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Quan điểm cổ đông, gắn với Milton Friedman, cho rằng trách nhiệm duy nhất của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận trong khuôn khổ luật pháp và đạo đức thông thường — vế điều kiện này thường bị bỏ khi người ta trích dẫn. Lập luận nghiêm túc của nó là: giám đốc chi tiền của cổ đông cho mục tiêu xã hội là chi khoản tiền họ không được uỷ quyền chi, và họ không có chính danh dân cử để quyết định thứ tự ưu tiên xã hội. Quan điểm các bên liên quan cho rằng doanh nghiệp sử dụng nguồn lực chung và tạo ra ngoại ứng, nên có nghĩa vụ với nhân viên, cộng đồng và môi trường chứ không chỉ với chủ sở hữu.
Lập luận công cụ, và hiện tượng tẩy xanh. Trong phòng thi, lập luận mạnh nhất ủng hộ trách nhiệm xã hội là lập luận CÔNG CỤ chứ không phải lập luận đạo đức: nó có thể tự trả tiền cho chính nó qua việc giữ chân nhân sự, tạo khác biệt thương hiệu, giảm rủi ro pháp lý và rủi ro bị tẩy chay, và dễ tiếp cận các nhà đầu tư có sàng lọc theo tiêu chí này. Cách đặt vấn đề đó biến câu hỏi từ một sự đánh đổi thành một khả năng đồng hướng. Rủi ro đối trọng là tẩy xanh — tuyên bố nhiều hơn việc thực làm — mà khi bị phát hiện thì thiệt hại thương hiệu còn lớn hơn cả việc chưa từng tuyên bố gì.
Một tập đoàn điện tử đề xuất xây nhà máy lắp ráp 4 000 lao động tại một nước thu nhập trung bình, đổi lại xin miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 10 năm. Hãy đánh giá và đưa ra khuyến nghị có điều kiện.
Lợi ích thật, phải nêu trước. Bốn nghìn việc làm trực tiếp, cộng việc làm gián tiếp trong dịch vụ và cung ứng quanh nhà máy. Ngoại tệ từ xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán. Chuyển giao kỹ năng, đặc biệt là kỷ luật sản xuất và quản lý chất lượng, sẽ lan sang doanh nghiệp nội khi nhân sự chuyển việc. Và hạ tầng điện cùng đường vào khu công nghiệp thường được nâng cấp cho dự án nhưng cả vùng cùng dùng.
Rủi ro 1 — ưu đãi thuế có thể xoá phần lớn lợi ích tài khoá. Miễn thuế 10 năm nghĩa là trong suốt giai đoạn lãi nhất, nước sở tại gần như không thu được gì từ lợi nhuận; nguồn thu chỉ còn thuế thu nhập cá nhân của người lao động và thuế gián thu. Tệ hơn, nếu tập đoàn dùng chuyển giá thì ngay cả sau khi hết ưu đãi, lợi nhuận khai báo tại nước này vẫn có thể rất nhỏ.
Rủi ro 2 — vốn dễ rút, và nó gắn thẳng với chính điều khoản ưu đãi. Nếu điều hấp dẫn nhất là miễn thuế thì đến năm thứ 11 nhà máy có lý do rõ ràng để chuyển sang nước khác đang chào ưu đãi mới. Một vùng đã tổ chức toàn bộ kinh tế địa phương quanh nhà máy sẽ chịu cú sốc rất lớn.
Rủi ro 3 — lắp ráp nằm ở khâu giá trị thấp. Nếu chỉ lắp ráp linh kiện nhập khẩu thì giá trị gia tăng nội địa mỏng, và kỹ năng học được là kỹ năng thao tác chứ không phải thiết kế. Nước sở tại có thể bị khoá vào một vị trí cố định trong chuỗi giá trị thay vì đi lên.
Khuyến nghị có điều kiện. Nên phê duyệt, nhưng thay ưu đãi 10 năm bằng một gói có ràng buộc: giảm thuế theo bậc gắn với tỷ lệ nội địa hoá tăng dần; cam kết đào tạo và số vị trí kỹ thuật, quản lý dành cho người địa phương; điều khoản hoàn lại ưu đãi nếu rút trước một số năm tối thiểu; và áp dụng quy định chuyển giá theo nguyên tắc giá thị trường. Không có các ràng buộc đó thì nước sở tại đang mua việc làm ngắn hạn bằng nguồn thu dài hạn, ở một mức giá không ai tính rõ.
Một hãng may mặc cân nhắc nâng lương và điều kiện làm việc trong chuỗi cung ứng, làm chi phí đơn vị tăng 6%. Giám đốc tài chính phản đối vì trách nhiệm với cổ đông. Hãy đánh giá.
Trình bày lập luận phản đối cho công bằng trước. Theo quan điểm cổ đông, ban điều hành được uỷ quyền để tối đa hoá giá trị cho chủ sở hữu trong khuôn khổ pháp luật. Nếu luật nước sở tại không đòi hỏi mức lương đó thì việc tự nguyện nâng chi phí 6% là chi tiền của cổ đông cho mục tiêu họ không uỷ quyền, và trong một ngành cạnh tranh khốc liệt về giá, điều đó có thể làm mất đơn hàng vào tay đối thủ không làm vậy.
Lập luận công cụ — mạnh hơn lập luận đạo đức khi thi. Có bốn kênh mà khoản chi này quay lại thành tiền. Giữ chân lao động: tỷ lệ nghỉ việc trong ngành may rất cao, và mỗi lần thay người là chi phí tuyển và đào tạo cộng với năng suất thấp trong giai đoạn đầu — nâng lương thường thu hồi được một phần đáng kể qua kênh này. Chất lượng: công nhân có kinh nghiệm làm ít lỗi hơn, giảm tỷ lệ hàng phải sửa và hàng bị trả. Rủi ro: một phóng sự về điều kiện lao động có thể xoá đi phần lợi nhuận nhiều năm và làm mất hợp đồng với các nhà bán lẻ lớn vốn phải bảo vệ thương hiệu của chính họ. Tiếp cận vốn: nhiều quỹ đầu tư nay sàng lọc theo tiêu chí lao động và môi trường.
Nhưng phải trung thực về giới hạn. Không có gì bảo đảm bốn kênh trên bù đủ 6%. Nếu sản phẩm ở phân khúc giá rẻ, người mua không nhận biết được sự khác biệt và không sẵn lòng trả thêm, thì phần chi phí sẽ ăn thẳng vào biên lợi nhuận. Lập luận công cụ mạnh ở phân khúc có thương hiệu và yếu ở phân khúc hàng hoá không nhãn.
Kết luận có điều kiện. Nên thực hiện nếu hãng bán hàng có thương hiệu tới người tiêu dùng cuối, vì khi đó cả bốn kênh đều hoạt động và rủi ro danh tiếng là rủi ro lớn nhất mà hãng đối mặt. Nếu hãng chỉ gia công cho bên khác và cạnh tranh thuần bằng giá, thì cách làm bền hơn là hành động chung của cả ngành hoặc là chuẩn do khách hàng lớn áp xuống — vì khi đó chi phí tăng cho tất cả và không ai bị thiệt thế cạnh tranh. Điểm cuối cùng cần nêu: dù chọn cách nào cũng không được tuyên bố quá điều thực làm, vì tẩy xanh bị phát hiện gây thiệt hại lớn hơn việc im lặng.
Bẫy 2 — trích Friedman mà bỏ vế điều kiện. Bản gốc là tối đa hoá lợi nhuận TRONG khuôn khổ luật pháp và đạo đức thông thường; bỏ vế đó là dựng lên một quan điểm dễ đánh đổ nhưng không phải quan điểm thật.
Bẫy 3 — bênh trách nhiệm xã hội chỉ bằng lý lẽ đạo đức. Lập luận CÔNG CỤ ghi điểm cao hơn vì nó chỉ ra cơ chế khiến khoản chi quay lại thành tiền — nhưng phải nêu cả giới hạn của nó.
Đọc xong rồi — làm thử ngay
Bài tập của chương Introduction to Business Management gồm 14 câu trắc nghiệm và 6 đề tự luận. Đáp án hiện ngay khi chọn, miễn phí.