Mục lục bài họcĐang ở d01-b3
Economies and Diseconomies of Scale, and Methods of Growth
What economies of scale actually mean. Economies of scale are reductions in average cost per unit as output rises. This must be stated precisely, because total cost almost always rises as a firm produces more; what falls is cost per unit. A firm producing 1 000 units at a total cost of 50 000 has an average cost of 50; at 5 000 units and a total cost of 150 000 the average is 30, even though total cost has tripled. Writing that economies of scale reduce total costs is the most heavily penalised error in this topic.
The six internal economies. Purchasing: bulk orders earn discounts and better credit terms. Technical: large plants justify specialised machinery and benefit from the law of increased dimensions, since doubling the surface area of a container more than doubles its volume. Managerial: a large firm can employ specialists in finance, marketing and operations instead of one generalist. Financial: banks lend to large firms at lower rates because default risk is lower and collateral is greater. Marketing: the cost of a campaign is spread over far more units. Risk-bearing: a diversified product range means a poor year in one line does not threaten the firm. External economies are different in kind: they come from the growth of the whole industry in one area, giving a pool of skilled labour, specialist suppliers and better infrastructure.
Diseconomies of scale are human, not mechanical. Beyond the minimum efficient scale, average cost rises again for three reasons, and all three concern people. Communication becomes slower and more distorted as messages pass through more layers. Coordination between departments becomes harder, so duplication and delay appear. Motivation falls as employees feel anonymous and disconnected from results. Because none of these is a machinery problem, no equipment purchase solves them; the remedies are delayering, decentralisation into smaller business units, and clearer accountability.
Internal versus external growth. Internal or organic growth means expanding using the firm's own resources: more outlets, more capacity, new products. It is slower but keeps control and culture intact and is usually financed from retained profit. External growth means combining with another organisation. A merger is an agreed combination into a new entity; an acquisition or takeover is one firm buying control of another, sometimes against its board's wishes. Integration may be horizontal, with a competitor at the same stage; vertical, either backward towards suppliers or forward towards distribution; or conglomerate, across unrelated industries.
Growth without ownership. A joint venture creates a jointly owned entity for a specific purpose, sharing cost and risk while each parent stays independent. A strategic alliance is a looser co-operation with no new entity. Franchising lets the franchisor expand rapidly using the franchisee's capital: the franchisor gains fees, royalties and speed with little capital risk, but loses direct control over quality, and one bad outlet damages the whole brand. The franchisee gains a proven format and a known brand, but pays fees and royalties from revenue rather than profit, and must accept tight rules on suppliers, prices and layout.
Lợi thế kinh tế theo quy mô thực chất là gì. Lợi thế kinh tế theo quy mô là việc chi phí bình quân trên mỗi đơn vị giảm xuống khi sản lượng tăng. Phải phát biểu thật chính xác như vậy, vì tổng chi phí hầu như luôn TĂNG khi hãng sản xuất nhiều hơn; thứ giảm là chi phí trên mỗi đơn vị. Một hãng sản xuất 1 000 đơn vị với tổng chi phí 50 000 có chi phí bình quân 50; ở mức 5 000 đơn vị với tổng chi phí 150 000 thì bình quân còn 30, dù tổng chi phí đã gấp ba. Viết rằng lợi thế quy mô làm giảm tổng chi phí là lỗi bị trừ điểm nặng nhất của chủ đề này.
Sáu lợi thế nội bộ. Mua sỉ: đặt hàng khối lượng lớn được chiết khấu và điều kiện thanh toán tốt hơn. Kỹ thuật: nhà máy lớn mới đáng đầu tư máy chuyên dụng, và hưởng quy luật tăng kích thước — tăng gấp đôi diện tích bề mặt của một bồn chứa làm thể tích tăng hơn gấp đôi. Quản lý: hãng lớn thuê được chuyên gia riêng cho tài chính, tiếp thị và vận hành thay vì một người kiêm nhiệm. Tài chính: ngân hàng cho hãng lớn vay với lãi suất thấp hơn vì rủi ro vỡ nợ thấp hơn và tài sản bảo đảm lớn hơn. Tiếp thị: chi phí một chiến dịch được chia trên số đơn vị lớn hơn nhiều. Chịu rủi ro: danh mục sản phẩm đa dạng khiến một năm kém của một dòng không đe doạ cả hãng. Lợi thế NGOẠI BỘ khác về bản chất: nó đến từ việc cả ngành lớn lên trong một vùng, tạo ra nguồn lao động lành nghề, nhà cung ứng chuyên biệt và hạ tầng tốt hơn.
Bất lợi theo quy mô là vấn đề con người, không phải máy móc. Vượt qua quy mô hiệu quả tối thiểu, chi phí bình quân tăng trở lại vì ba lý do, và cả ba đều thuộc về con người. Truyền thông chậm lại và bị méo khi thông tin đi qua nhiều tầng. Phối hợp giữa các bộ phận khó hơn, sinh ra trùng lặp và chậm trễ. Động lực giảm khi nhân viên thấy mình vô danh và không thấy kết quả công việc của mình. Vì không cái nào là vấn đề máy móc, không khoản đầu tư thiết bị nào chữa được; cách chữa là giảm tầng nấc, phân quyền thành các đơn vị kinh doanh nhỏ, và làm rõ trách nhiệm.
Tăng trưởng nội sinh và ngoại sinh. Tăng trưởng nội sinh hay hữu cơ là mở rộng bằng nguồn lực của chính hãng: thêm cửa hàng, thêm công suất, thêm sản phẩm mới. Nó chậm hơn nhưng giữ được quyền kiểm soát và văn hoá, và thường tài trợ bằng lợi nhuận giữ lại. Tăng trưởng ngoại sinh là kết hợp với một tổ chức khác. Sáp nhập là việc hai bên thoả thuận hợp nhất thành một pháp nhân mới; thâu tóm là một hãng mua quyền kiểm soát hãng kia, đôi khi trái ý hội đồng quản trị của họ. Hợp nhất có thể theo chiều ngang với đối thủ ở cùng công đoạn; theo chiều dọc, lùi về phía nhà cung ứng hoặc tiến về phía phân phối; hoặc hỗn hợp, giữa các ngành không liên quan.
Tăng trưởng mà không cần sở hữu. Liên doanh lập ra một pháp nhân đồng sở hữu cho một mục đích cụ thể, chia sẻ chi phí và rủi ro trong khi hai công ty mẹ vẫn độc lập. Liên minh chiến lược lỏng hơn, hợp tác mà không lập pháp nhân mới. Nhượng quyền cho phép bên nhượng mở rộng rất nhanh bằng vốn của bên nhận: bên nhượng thu phí, tiền bản quyền và tốc độ mà gần như không chịu rủi ro vốn, nhưng mất quyền kiểm soát trực tiếp chất lượng, và một cửa hàng tồi làm hỏng cả thương hiệu. Bên nhận có ngay một mô hình đã được chứng minh và một thương hiệu có sẵn, nhưng trả phí cùng tiền bản quyền tính trên DOANH THU chứ không trên lợi nhuận, và phải chấp nhận ràng buộc chặt về nhà cung ứng, giá bán và cách bài trí.
Một hãng có ba mức sản lượng: 1 000 đơn vị với tổng chi phí 50 000; 5 000 đơn vị với tổng chi phí 150 000; 20 000 đơn vị với tổng chi phí 800 000. (a) Tính chi phí bình quân mỗi mức. (b) Xác định vùng nào là lợi thế và vùng nào là bất lợi theo quy mô. (c) Quy mô hiệu quả tối thiểu nằm ở đâu và vì sao con số đó quan trọng. (d) Vì sao nói tổng chi phí giảm là sai.
(a) Chi phí bình quân. 50 000 ÷ 1 000 = 50. 150 000 ÷ 5 000 = 30. 800 000 ÷ 20 000 = 40.
(b) Hai vùng. Từ 1 000 lên 5 000 đơn vị, chi phí bình quân giảm từ 50 xuống 30 — đây là vùng lợi thế kinh tế theo quy mô. Từ 5 000 lên 20 000, chi phí bình quân tăng từ 30 lên 40 — đây là vùng bất lợi theo quy mô, và nguyên nhân gần như chắc chắn nằm ở truyền thông, phối hợp và động lực chứ không ở thiết bị.
(c) Quy mô hiệu quả tối thiểu. Đó là sản lượng nhỏ nhất đạt chi phí bình quân thấp nhất, ở đây là 5 000 đơn vị. Con số này quan trọng vì nó quyết định cấu trúc của cả ngành: nếu quy mô hiệu quả tối thiểu rất lớn so với quy mô thị trường thì ngành chỉ nuôi được vài hãng lớn, còn nếu nó nhỏ thì hàng trăm hãng nhỏ vẫn cạnh tranh được về chi phí. Nó cũng cho hãng biết mở rộng tới đâu thì nên dừng.
(d) Vì sao nói tổng chi phí giảm là sai. Tổng chi phí đi từ 50 000 lên 150 000 rồi lên 800 000 — nó luôn tăng ở cả ba mốc, kể cả trong vùng có lợi thế quy mô. Điều đó hợp lý vì sản xuất nhiều hơn thì tốn nhiều nguyên liệu và nhân công hơn. Lợi thế quy mô nói về việc tổng chi phí tăng chậm hơn sản lượng, nên phép chia cho ra số nhỏ hơn. Câu phát biểu an toàn để dùng trong bài là: chi phí bình quân trên mỗi đơn vị giảm khi sản lượng tăng.
Một chuỗi cà phê 12 cửa hàng muốn có 100 cửa hàng trong ba năm. Hãy so sánh tăng trưởng hữu cơ, thâu tóm một chuỗi nhỏ hơn, và nhượng quyền; rồi đưa ra khuyến nghị có điều kiện.
Phương án 1 — tăng trưởng hữu cơ. Ưu điểm: giữ trọn quyền kiểm soát chất lượng và văn hoá, không phải hoà nhập hai hệ thống, không trả phần chênh khi mua lại. Nhược điểm quyết định ở đây là tốc độ và vốn: mở 88 cửa hàng bằng lợi nhuận giữ lại trong ba năm gần như chắc chắn không đủ, nên hãng phải vay nợ lớn hoặc phát hành thêm cổ phần và pha loãng quyền sở hữu.
Phương án 2 — thâu tóm một chuỗi nhỏ hơn. Ưu điểm: có ngay mặt bằng ở vị trí tốt, nhân sự đã quen việc, và loại bỏ một đối thủ. Nhược điểm: phải trả giá cao hơn giá trị sổ sách, và rủi ro lớn nhất là xung đột văn hoá — phần lớn thương vụ thất bại không phải vì tính sai con số mà vì hai cách làm việc không hoà được, nhân sự giỏi bỏ đi trong năm đầu.
Phương án 3 — nhượng quyền. Ưu điểm đúng vào chỗ hai phương án trên yếu: bên nhận bỏ vốn nên hãng đạt được tốc độ mà không chịu rủi ro vốn, đồng thời thu phí ban đầu và tiền bản quyền theo doanh thu. Nhược điểm: mất kiểm soát trực tiếp chất lượng, và với cà phê thì trải nghiệm tại cửa hàng CHÍNH LÀ sản phẩm — một cửa hàng phục vụ tệ làm hỏng thương hiệu ở cả 99 cửa hàng còn lại.
Khuyến nghị có điều kiện. Nhượng quyền là phương án duy nhất đạt được mục tiêu 100 cửa hàng trong ba năm mà không đẩy hãng vào rủi ro tài chính, nên nên chọn nó — với ba điều kiện: có sổ tay vận hành chi tiết và chương trình đào tạo bắt buộc trước khi khai trương; có đội kiểm tra chất lượng độc lập đi thực địa định kỳ; và có điều khoản chấm dứt hợp đồng rõ ràng khi bên nhận vi phạm tiêu chuẩn. Không có ba điều kiện đó, chính ưu điểm tốc độ sẽ trở thành cơ chế lan truyền rủi ro thương hiệu.
Câu tổng quát nên dùng khi đánh giá. Không có phương thức tăng trưởng nào tốt nhất một cách tuyệt đối; lựa chọn đúng phụ thuộc vào ba biến là tốc độ cần đạt, vốn sẵn có, và mức độ quan trọng của việc kiểm soát chất lượng đối với chính sản phẩm đó.
Bẫy 2 — giải thích bất lợi theo quy mô bằng lý do kỹ thuật. Cả ba nguyên nhân đều là con người: truyền thông, phối hợp, động lực — nên biện pháp phải là tổ chức chứ không phải thiết bị.
Bẫy 3 — lẫn sáp nhập với thâu tóm, và lẫn chiều ngang với chiều dọc. Sáp nhập là thoả thuận tạo pháp nhân mới; thâu tóm là mua quyền kiểm soát. Ngang là cùng công đoạn; dọc là lùi về cung ứng hoặc tiến về phân phối.
Đọc xong rồi — làm thử ngay
Bài tập của chương Introduction to Business Management gồm 14 câu trắc nghiệm và 6 đề tự luận. Đáp án hiện ngay khi chọn, miễn phí.