Mục lục bài họcĐang ở d02-b4
Geoengineering, Carbon Pricing and the Politics of Climate Governance
Two families of geoengineering that must not be confused. Solar radiation management lowers temperature by reflecting away part of the incoming sunlight, for example by injecting reflective aerosols into the stratosphere or brightening marine clouds. Carbon dioxide removal takes the gas back out of the atmosphere through afforestation, direct air capture, enhanced rock weathering, or bioenergy with carbon capture and storage. Treating them as one category is a serious error, because their risks are completely different.
Why solar radiation management is the more dangerous family. It is cheap and fast, which is precisely the problem. It does not touch the concentration of carbon dioxide, so ocean acidification continues unchanged — and acidification alone threatens the base of marine food chains. It carries a termination shock: if deployment stopped suddenly, temperature would rebound faster than the current rate of warming, giving ecosystems even less time to adapt than they have now. And because it is cheap enough for a single state to attempt unilaterally while the effects fall on everyone, it raises a governance problem with no existing institution to handle it.
Carbon dioxide removal addresses the cause but faces different limits. Because it lowers the concentration, it treats warming and acidification together. But it is expensive and slow, and at the scale needed it competes for land with food production and ecosystems. It is best understood as a necessary complement to emissions cuts for residual emissions that cannot be eliminated, not as an alternative to them.
The moral hazard shared by both. Merely believing that a technical fix will arrive reduces the political pressure to cut emissions now. Since the harm accumulates during the delay, the damage occurs before the technology is ever deployed. This is why the strongest evaluations treat geoengineering as a question about incentives, not only about engineering.
Carbon pricing: two instruments with mirror-image properties. A carbon tax sets the price and lets the market determine the quantity of emissions cut: businesses can plan against a predictable price, but the policy guarantees no particular emissions outcome. Cap and trade sets the quantity and lets the market determine the price: it guarantees the emissions total, but prices fluctuate, and if too many permits are issued the price collapses and the scheme becomes ineffective. Each instrument secures exactly one of the two variables and leaves the other open.
Why negotiations stall on equity rather than on science. The countries that emitted most historically are not the countries facing the worst impacts, and the countries with the least capacity to adapt contributed least to the problem. From this asymmetry comes the principle of common but differentiated responsibilities, and from it come the persistent disputes over climate finance and over loss and damage. The scientific basis has been broadly settled for decades; the unresolved question is who pays.
Hai nhóm địa kỹ thuật không được lẫn với nhau. Quản lý bức xạ mặt trời hạ nhiệt độ bằng cách phản xạ đi một phần ánh sáng mặt trời đi tới, chẳng hạn bằng cách phun sol khí phản xạ vào tầng bình lưu hoặc làm sáng mây biển. Loại bỏ cacbon điôxit lấy chính chất khí đó ra khỏi khí quyển qua trồng rừng, thu giữ trực tiếp từ không khí, tăng cường phong hoá đá, hoặc năng lượng sinh khối kèm thu giữ và lưu trữ cacbon. Coi hai nhóm này là một là một lỗi nghiêm trọng, vì rủi ro của chúng khác nhau hoàn toàn.
Vì sao quản lý bức xạ mặt trời là nhóm nguy hiểm hơn. Nó rẻ và nhanh, và đó chính là vấn đề. Nó không chạm tới nồng độ cacbon điôxit, nên axit hoá đại dương vẫn tiếp diễn nguyên vẹn — mà riêng axit hoá đã đe doạ đáy của các chuỗi thức ăn biển. Nó mang theo cú sốc chấm dứt: nếu việc triển khai bị ngừng đột ngột, nhiệt độ sẽ bật lên nhanh hơn cả tốc độ nóng lên hiện nay, khiến các hệ sinh thái có ít thời gian thích nghi hơn cả bây giờ. Và vì nó đủ rẻ để một quốc gia đơn lẻ có thể tự làm trong khi hệ quả rơi lên tất cả, nó đặt ra một vấn đề quản trị mà chưa có thiết chế nào xử lý được.
Loại bỏ cacbon chạm đúng nguyên nhân nhưng vướng giới hạn khác. Vì nó hạ nồng độ, nó xử lý cùng lúc cả nóng lên lẫn axit hoá. Nhưng nó đắt và chậm, và ở quy mô cần thiết thì nó cạnh tranh đất đai với sản xuất lương thực và với hệ sinh thái. Cách hiểu đúng nhất là coi nó như một biện pháp bổ sung cần thiết cho việc cắt phát thải, dùng cho phần phát thải còn lại không thể loại bỏ được, chứ không phải một phương án thay thế cho việc cắt phát thải.
Rủi ro đạo đức chung của cả hai nhóm. Chỉ cần tin rằng một giải pháp kỹ thuật sẽ tới là đủ để làm giảm áp lực chính trị lên việc cắt phát thải ngay bây giờ. Vì tác hại tích luỹ trong thời gian trì hoãn đó, thiệt hại xảy ra trước cả khi công nghệ được triển khai. Đó là lý do những bài đánh giá mạnh nhất coi địa kỹ thuật là một câu hỏi về động cơ chứ không chỉ về kỹ thuật.
Định giá cacbon: hai công cụ có tính chất đối xứng gương. Thuế cacbon đặt GIÁ và để thị trường quyết định lượng cắt giảm: doanh nghiệp lập kế hoạch được nhờ một mức giá dự đoán được, nhưng chính sách không bảo đảm đạt được bất kỳ mức phát thải cụ thể nào. Hạn ngạch mua bán được đặt LƯỢNG và để thị trường quyết định giá: nó bảo đảm tổng mức phát thải, nhưng giá biến động, và nếu phát ra quá nhiều hạn ngạch thì giá sụp và cơ chế trở nên vô hiệu. Mỗi công cụ khoá chặt đúng một trong hai biến và bỏ ngỏ biến còn lại.
Vì sao đàm phán bế tắc ở công bằng chứ không ở khoa học. Những nước phát thải nhiều nhất trong lịch sử không phải những nước chịu tác động nặng nhất, và những nước có năng lực thích ứng kém nhất lại đóng góp ít nhất vào vấn đề. Từ sự bất đối xứng đó ra đời nguyên tắc trách nhiệm chung nhưng có phân biệt, và cũng từ đó là những tranh chấp dai dẳng về tài chính khí hậu và về tổn thất và thiệt hại. Cơ sở khoa học về cơ bản đã được thống nhất từ nhiều thập kỷ; câu hỏi chưa giải quyết được là ai trả tiền.
Một nhóm nghiên cứu đề xuất phun sol khí sulfat vào tầng bình lưu để hạ nhiệt độ trung bình toàn cầu khoảng 1 °C, với chi phí ước tính chỉ vài tỷ đô-la mỗi năm. Hãy đánh giá.
Ưu điểm thật, phải nêu trước. Cơ chế đã được kiểm chứng bởi tự nhiên: các vụ phun trào núi lửa lớn đưa sulfat lên tầng bình lưu và làm nhiệt độ toàn cầu giảm rõ rệt trong một tới hai năm sau đó. Chi phí thấp một cách đáng kinh ngạc so với chi phí cắt phát thải, và tác dụng đến trong vòng vài năm chứ không phải vài thập kỷ. Với một thế giới đang tiến gần các ngưỡng nguy hiểm, đó là những ưu điểm không thể gạt bỏ.
Vấn đề 1 — nó không chạm tới nguyên nhân. Nồng độ CO₂ không đổi, nên axit hoá đại dương tiếp diễn nguyên vẹn. Đây là hạn chế cốt lõi và cần được nêu ngay: biện pháp này che bớt triệu chứng nhiệt độ trong khi để nguyên một tác động độc lập đang đe doạ đáy chuỗi thức ăn biển.
Vấn đề 2 — cú sốc chấm dứt. Vì sol khí lắng xuống trong một tới hai năm, việc duy trì hiệu ứng đòi hỏi phun liên tục mãi mãi, chừng nào nồng độ CO₂ còn cao. Nếu vì chiến tranh, khủng hoảng kinh tế hay bất đồng chính trị mà việc phun ngừng lại, toàn bộ phần nóng lên bị dồn nén sẽ hiện ra trong vài năm — tức tốc độ nóng lên còn nhanh hơn hiện nay, và sinh vật càng không kịp di chuyển hay thích nghi.
Vấn đề 3 — tác động phân bố không đều và không đàm phán được. Các mô hình cho thấy phun sol khí làm thay đổi mô thức mưa, đặc biệt có thể làm suy yếu gió mùa mà hàng tỷ người phụ thuộc. Vấn đề là không có một mức chỉnh nào tối ưu cho mọi vùng: mức làm mát vừa đủ cho vùng này có thể gây hạn cho vùng kia. Ai là người được quyết định con số đó?
Vấn đề 4 — quản trị và hành động đơn phương. Chi phí thấp là con dao hai lưỡi: nó nằm trong khả năng của một quốc gia trung bình, hoặc thậm chí một chủ thể tư nhân. Nhưng hệ quả rơi lên toàn cầu. Hiện không có thiết chế quốc tế nào có thẩm quyền cho phép hoặc ngăn cản, và cũng không có cơ chế bồi thường cho vùng bị thiệt.
Vấn đề 5 — rủi ro đạo đức. Chỉ riêng việc phương án này được coi là khả thi đã làm giảm áp lực cắt phát thải. Và vì tác hại của việc trì hoãn tích luỹ ngay lập tức trong khi công nghệ có thể không bao giờ được triển khai, thiệt hại xảy ra trước cả khi bất kỳ sol khí nào được phun ra.
Kết luận có điều kiện. Không nên triển khai như một biện pháp thay thế cho cắt phát thải trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Có thể biện minh cho việc nghiên cứu nó — và cả cho việc chuẩn bị một khung quản trị quốc tế — như một phương án dự phòng khẩn cấp nếu hệ thống khí hậu tiến sát một điểm tới hạn, với ba điều kiện: nghiên cứu phải công khai và chịu giám sát quốc tế; phải đi kèm cam kết cắt phát thải có ràng buộc để triệt tiêu rủi ro đạo đức; và phải có cơ chế ra quyết định đa phương cùng cơ chế bồi thường trước khi bất kỳ triển khai nào diễn ra.
Một chính phủ cam kết giảm 40% phát thải vào năm 2035 và phải chọn giữa thuế cacbon và hệ thống hạn ngạch mua bán. Hãy tư vấn.
Nguyên tắc phân biệt. Thuế đặt GIÁ và để thị trường quyết định lượng cắt. Hạn ngạch đặt LƯỢNG và để thị trường quyết định giá. Mỗi công cụ khoá chặt đúng một biến và bỏ ngỏ biến kia — đây là câu phải viết ra đầu tiên vì toàn bộ phần tư vấn dựa trên nó.
Áp vào mục tiêu cụ thể. Cam kết ở đây là một con số LƯỢNG: giảm 40% vào năm 2035. Chỉ hạn ngạch bảo đảm đạt được con số đó, vì tổng số hạn ngạch phát ra chính là mức trần phát thải. Với thuế, nếu mức thuế đặt thấp hơn mức cần thiết thì doanh nghiệp chọn trả thuế và tiếp tục phát thải, và chính phủ chỉ biết mình đã đặt sai khi số liệu về sau cho thấy mục tiêu không đạt.
Nhưng phải nêu điểm mạnh của thuế. Giá dự đoán được là điều kiện để doanh nghiệp đầu tư dài hạn: một nhà máy quyết định thay dây chuyền cần biết chi phí cacbon trong mười lăm năm tới. Với hạn ngạch, giá biến động mạnh theo chu kỳ kinh tế — trong suy thoái thì sản lượng giảm nên nhu cầu hạn ngạch giảm và giá sụp, đúng lúc tín hiệu cần mạnh nhất. Thuế cũng đơn giản hơn về hành chính và ít cơ hội thao túng hơn.
Cạm bẫy lớn nhất của hạn ngạch, phải cảnh báo. Nếu phát hành quá nhiều hạn ngạch ở giai đoạn đầu — thường xảy ra vì áp lực từ ngành công nghiệp và vì số liệu nền chưa chính xác — thì giá sụp về gần không và cơ chế trở nên vô hiệu trong nhiều năm. Đây là bài học đã xảy ra trên thực tế ở các hệ thống lớn.
Khuyến nghị. Chọn hạn ngạch mua bán vì mục tiêu được phát biểu theo lượng, nhưng thiết kế kèm ba cơ chế để lấy lại ưu điểm của thuế. Một, giá sàn để tín hiệu đầu tư không biến mất khi kinh tế suy giảm. Hai, giá trần để chi phí không tăng đột biến gây phản ứng chính trị. Ba, lộ trình cắt giảm số hạn ngạch công bố trước nhiều năm để doanh nghiệp lập kế hoạch. Hệ thống có sàn và trần trên thực tế là một dạng lai giữa hai công cụ và giữ được phần lớn ưu điểm của cả hai.
Hai vấn đề phải xử lý dù chọn công cụ nào. Thứ nhất, rò rỉ cacbon: nếu chỉ một nước áp giá cacbon thì ngành phát thải cao có thể chuyển sang nước không áp, làm phát thải toàn cầu không giảm mà năng lực sản xuất trong nước thì mất — biện pháp thường dùng là cơ chế điều chỉnh biên giới. Thứ hai, tính luỹ thoái: chi phí năng lượng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong thu nhập người nghèo, nên phải hoàn trả một phần nguồn thu theo đầu người hoặc dùng nó tài trợ cải tạo nhà ở tiết kiệm năng lượng, nếu không chính sách sẽ mất tính chính danh về chính trị.
Bẫy 2 — nói thuế cacbon bảo đảm đạt mục tiêu phát thải. Thuế khoá GIÁ và bỏ ngỏ LƯỢNG; chỉ hạn ngạch mới bảo đảm được một con số lượng cụ thể.
Bẫy 3 — quy bế tắc đàm phán khí hậu cho sự bất đồng khoa học. Cơ sở khoa học đã thống nhất từ lâu; bế tắc nằm ở công bằng, ở trách nhiệm lịch sử và ở câu hỏi ai trả tiền.
Đọc xong rồi — làm thử ngay
Bài tập của chương Global Climate — Vulnerability and Resilience gồm 14 câu trắc nghiệm và 5 đề tự luận. Đáp án hiện ngay khi chọn, miễn phí.