Mục lục bài họcĐang ở d04-b4
← AP English Language
0/32 bài đã học xong
Chương 4 · Unit 4 — Style: Diction, Syntax, Tone and Rhetorical Devices · Bài 4/4 của chương · bài 16/32 của AP English Language

Punctuation, Voice and Pronouns as Rhetorical Choices

Dấu câu, thể động từ và đại từ cũng là lựa chọn tu từ
← Mục lục bài học
Lý thuyết · English

Punctuation does argumentative work

  • Colon — promises that what follows delivers what was just announced. It creates expectation and then pays it, which feels like proof.
  • Dash — an interruption the writer chose to leave in. It can add an afterthought that undercuts the main clause, or isolate a phrase for emphasis.
  • Semicolon — binds two independent statements as one thought, so the relationship between them is asserted without a connective word naming it.
  • Full stop where a comma would do — fragments and very short sentences force a pause the reader cannot skip.
  • Parentheses — demote material while keeping it on the page: the writer gets to say it and to say it does not matter.

Active and passive voice

The passive removes the actor: mistakes were made, the decision was taken. Sometimes that is legitimate — the actor is unknown or irrelevant. Often it is a choice about responsibility, and one of the most quotable things a writer can do is put a hard fact in the passive and a favourable one in the active.

The exam-ready question: who disappeared from this sentence, and does the argument benefit from their absence?

Pronouns and modality

  • We builds a group and then obliges it — a reader inside "we" cannot object without leaving the group.
  • You makes the issue personal and can accuse.
  • They creates distance and can be used to build an enemy.
  • One and the impersonal third person make a claim sound like general knowledge.

Modalitymust, should, might, may well — sets the strength of a claim. Watch for a writer who states evidence with certainty and conclusions with hedges: that is a writer inviting the reader to draw the strong conclusion themselves, which is safer than stating it.

Giải thích tiếng Việt

Dấu câu cũng lập luận.

  • Dấu hai chấm — hứa rằng phần sau sẽ trả đúng thứ vừa loan báo. Nó tạo chờ đợi rồi thoả mãn chờ đợi, và cảm giác ấy giống như đã được chứng minh.
  • Gạch ngang — một chỗ ngắt mà người viết cố ý giữ lại. Nó có thể thêm một ý nghĩ chen vào làm nhẹ đi mệnh đề chính, hoặc tách riêng một cụm ra để nhấn.
  • Chấm phẩy — buộc hai câu độc lập thành một ý, tức là khẳng định quan hệ giữa chúng mà không cần từ nối nào gọi tên quan hệ đó.
  • Chấm câu ở chỗ lẽ ra là phẩy — câu cụt và câu rất ngắn ép người đọc dừng lại, không lướt qua được.
  • Ngoặc đơn — hạ cấp một thông tin mà vẫn để nó trên trang: người viết vừa nói ra được điều đó, vừa tuyên bố rằng nó không quan trọng.

Thể chủ động và bị động. Bị động xoá mất người làm: “mistakes were made”, “the decision was taken”. Có lúc điều đó chính đáng — không biết ai làm, hoặc ai làm cũng không quan trọng. Nhưng thường thì đó là một lựa chọn về trách nhiệm, và một trong những nước đi dễ trích dẫn nhất là đặt sự thật khó nghe vào thể bị động còn sự thật có lợi vào thể chủ động.

Câu hỏi dùng được ngay trong phòng thi: ai đã biến mất khỏi câu này, và lập luận được lợi gì từ sự vắng mặt đó?

Đại từ và mức độ khẳng định. We dựng ra một nhóm rồi ràng buộc nhóm ấy — người đọc đã nằm trong chữ “chúng ta” thì không phản đối được nếu không tự bước ra khỏi nhóm. You khiến chuyện thành chuyện riêng của người nghe và có thể mang sức buộc tội. They tạo khoảng cách, và dùng để dựng nên một phía đối địch. One cùng lối nói ngôi ba phi cá nhân làm cho một khẳng định nghe như hiểu biết chung ai cũng biết.

Modalitymust, should, might, may well — đặt mức mạnh yếu cho khẳng định. Để ý người viết nêu bằng chứng thì chắc nịch mà nêu kết luận thì rào đón: đó là người đang mời bạn tự rút ra kết luận mạnh, an toàn hơn nhiều so với việc tự nói ra.

Ví dụ — đọc một câu bị động của cơ quan công quyền

Thông cáo của một sở: “Delays were experienced by some applicants. The department has since strengthened its review procedures and has processed 4,000 files this quarter.” Phân tích lựa chọn ngữ pháp ở đây.

Giải.

Bước 1 — hỏi ai biến mất. Câu đầu ở thể bị động, và chủ thể gây ra chậm trễ không xuất hiện. Người nộp hồ sơ thì có mặt, nhưng có mặt ở vai người chịu (“were experienced by”). Chuyện chậm trễ được kể như thời tiết: nó xảy đến với người ta.

Bước 2 — đối chiếu với câu sau. Câu thứ hai lập tức chuyển sang chủ động, và chủ ngữ là “the department”. Cùng một thông cáo: việc xấu không có ai làm, việc tốt có tên người làm. Chỉ riêng phép đối này đã đủ cho một đoạn phân tích.

Bước 3 — nhặt thêm hai chi tiết nhỏ. Chữ “some” thu nhỏ quy mô mà không cần đưa con số; còn con số duy nhất được đưa (4.000 hồ sơ) lại nằm ở vế thành tích. Có số ở chỗ khoe, không có số ở chỗ lỗi.

Bước 4 — viết thành câu bình luận có chuỗi đầy đủ. Bằng cách đặt sự chậm trễ vào thể bị động rồi chuyển sang chủ động ngay khi nói tới việc khắc phục, sở biến một thất bại có người chịu trách nhiệm thành một hoàn cảnh khách quan, đồng thời giữ lại quyền tác giả với phần sửa sai — nhờ đó cùng một đoạn văn vừa thừa nhận vấn đề vừa không thừa nhận ai gây ra nó.

Chú ý là bài phân tích này không cần dùng chữ “thể bị động” nhiều lần. Điểm đến từ việc chỉ ra ai bị xoá và ai được giữ lại.

Bẫy hay mất điểm — Coi bị động là lỗi ngữ pháp và dừng ở đó. Trong đề AP, thể bị động gần như luôn là một lựa chọn có chủ đích; nhiệm vụ của bạn không phải chấm bút đỏ mà là chỉ ra lựa chọn ấy giấu ai và phục vụ mục đích gì. Viết “câu này bị động nên yếu” là bỏ mất chính chỗ đáng phân tích.
Phải nhớ — Dấu hai chấm hứa, gạch ngang chen, ngoặc đơn hạ cấp; bị động xoá người làm; “we” ràng buộc, “they” đẩy ra xa. Mỗi lựa chọn ấy đều trả lời được câu hỏi: phục vụ mục đích gì?

Đọc xong rồi — làm thử ngay

Bài tập của chương Unit 4 — Style: Diction, Syntax, Tone and Rhetorical Devices gồm 14 câu trắc nghiệm và 4 đề tự luận. Đáp án hiện ngay khi chọn, miễn phí.

Làm bài tập chương →