Thi THPT · Môn Toán · Phương pháp toạ độ trong không gian

Phương trình mặt phẳng

Làm 17 câu bài tập tương tác → Các bài khác môn Toán

Học xong bài này bạn sẽ

Lý thuyết cần nắm

Trong không gian với hệ toạ độ $Oxyz$, mọi mặt phẳng đều được mô tả trọn vẹn bởi hai dữ kiện: một điểm mà nó đi quamột hướng vuông góc với nó. Hướng đó chính là vectơ pháp tuyến.

1. Vectơ pháp tuyến

Vectơ $\vec{n}\ne\vec{0}$ gọi là vectơ pháp tuyến của mặt phẳng $(P)$ nếu giá của nó vuông góc với $(P)$. Một mặt phẳng có vô số vectơ pháp tuyến, chúng đôi một cùng phương: nếu $\vec{n}$ là vectơ pháp tuyến thì $k\vec{n}$ với $k\ne 0$ cũng vậy. Vì thế $(2;-3;1)$ và $(-4;6;-2)$ cùng chỉ một hướng pháp tuyến.

Nếu $(P)$ chứa hai vectơ không cùng phương $\vec{u}$ và $\vec{v}$ thì một vectơ pháp tuyến của $(P)$ là tích có hướng $\vec{n}=\left[\vec{u},\vec{v}\right]$. Với $\vec{u}=(u_1;u_2;u_3)$ và $\vec{v}=(v_1;v_2;v_3)$ thì $$\left[\vec{u},\vec{v}\right]=\left(u_2v_3-u_3v_2\ ;\ u_3v_1-u_1v_3\ ;\ u_1v_2-u_2v_1\right).$$

2. Phương trình tổng quát

Mặt phẳng đi qua $M_0(x_0;y_0;z_0)$ và nhận $\vec{n}=(A;B;C)$ làm vectơ pháp tuyến có phương trình $$A(x-x_0)+B(y-y_0)+C(z-z_0)=0,$$ khai triển ra được dạng tổng quát $Ax+By+Cz+D=0$ với $A^2+B^2+C^2\gt 0$ và $D=-(Ax_0+By_0+Cz_0)$.

Chiều ngược lại quan trọng không kém: nhìn một phương trình $Ax+By+Cz+D=0$ là đọc ngay ra vectơ pháp tuyến $(A;B;C)$. Hằng số $D$ không tham gia vào vectơ pháp tuyến — nó chỉ tịnh tiến mặt phẳng, không đổi hướng của nó.

3. Ba cách lập phương trình mặt phẳng

Dữ kiện choCách làmKết quả
Một điểm $M_0$ và một vectơ pháp tuyến $\vec{n}=(A;B;C)$Thay thẳng vào công thức$A(x-x_0)+B(y-y_0)+C(z-z_0)=0$
Ba điểm $A$, $B$, $C$ không thẳng hàngLấy $\vec{n}=\left[\vec{AB},\vec{AC}\right]$ rồi dùng điểm $A$Về lại trường hợp trên
Cắt ba trục tại $A(a;0;0)$, $B(0;b;0)$, $C(0;0;c)$ với $abc\ne 0$Dùng phương trình theo đoạn chắn$\dfrac{x}{a}+\dfrac{y}{b}+\dfrac{z}{c}=1$

Một biến thể hay gặp: mặt phẳng đi qua $M_0$ và song song với $(Q): Ax+By+Cz+D'=0$ thì giữ nguyên bộ $(A;B;C)$, chỉ tìm lại hằng số tự do bằng cách thay toạ độ $M_0$ vào.

4. Vị trí tương đối của hai mặt phẳng

Cho $(P): A_1x+B_1y+C_1z+D_1=0$ và $(Q): A_2x+B_2y+C_2z+D_2=0$ với các vectơ pháp tuyến $\vec{n_1}$, $\vec{n_2}$.

  • Song song hoặc trùng nhau khi $\vec{n_1}$ và $\vec{n_2}$ cùng phương, tức $\left[\vec{n_1},\vec{n_2}\right]=\vec{0}$. Khi các hệ số đều khác $0$, điều kiện song song là $\dfrac{A_1}{A_2}=\dfrac{B_1}{B_2}=\dfrac{C_1}{C_2}\ne\dfrac{D_1}{D_2}$; nếu tỉ số thứ tư cũng bằng thì hai mặt phẳng trùng nhau.
  • Vuông góc khi $\vec{n_1}\cdot\vec{n_2}=0$, tức $A_1A_2+B_1B_2+C_1C_2=0$.
  • Cắt nhau trong mọi trường hợp còn lại.

5. Khoảng cách từ một điểm đến một mặt phẳng

Với $M(x_M;y_M;z_M)$ và $(P): Ax+By+Cz+D=0$ thì $$d\left(M,(P)\right)=\dfrac{\left|Ax_M+By_M+Cz_M+D\right|}{\sqrt{A^2+B^2+C^2}}.$$

Hai chỗ hay hỏng: tử số phải lấy giá trị tuyệt đối và phải cộng cả hằng số $D$; mẫu số là căn bậc hai của tổng bình phương ba hệ số, không phải chính tổng đó. Đặc biệt, nếu $(P)$ và $(Q)$ song song thì khoảng cách giữa chúng bằng khoảng cách từ một điểm bất kì của $(P)$ đến $(Q)$; muốn dùng công thức rút gọn $\dfrac{|D_1-D_2|}{\sqrt{A^2+B^2+C^2}}$ thì bắt buộc phải đưa hai phương trình về cùng một bộ hệ số $(A;B;C)$ trước đã.

6. Vì sao phương trình mặt phẳng lại có dạng bậc nhất

Một điểm $X(x;y;z)$ thuộc $(P)$ khi và chỉ khi vectơ $\vec{MX}$ nằm trong mặt phẳng, tức vuông góc với $\vec{n}$. Viết điều kiện đó bằng tích vô hướng:

$$\vec{n}\cdot\vec{MX}=0\ \Longleftrightarrow\ A(x-x_0)+B(y-y_0)+C(z-z_0)=0.$$

Khai triển ra chính là $Ax+By+Cz+D=0$ với $D=-(Ax_0+By_0+Cz_0)$. Như vậy bộ ba $(A;B;C)$ quyết định hướng, còn $D$ quyết định vị trí: đổi $D$ thì mặt phẳng tịnh tiến song song với chính nó. Hiểu điều này thì bài “viết mặt phẳng song song với $(P)$” chỉ còn là việc giữ nguyên $(A;B;C)$ và tìm lại một số $D$.

Mặt phẳng (P) vẽ dạng hình bình hành nghiêng, vectơ pháp tuyến n cắm vuông góc tại M, vectơ AB nằm trong mặt phẳngM(x₀;y₀;z₀)n = (A;B;C)AB(P)n ⊥ mọi vectơ nằm trong (P)n · MX = 0 ⇒ A(x−x₀)+B(y−y₀)+C(z−z₀) = 0AB nằm trong (P) nên n · AB = 0 — không được lấy AB làm pháp tuyến
Mọi vectơ nằm trong $(P)$ đều vuông góc với $\vec{n}$ — đó là toàn bộ nội dung của phương trình mặt phẳng; riêng $\vec{AB}$ nằm trong mặt phẳng nên không bao giờ được lấy làm pháp tuyến

7. Bốn chỗ công thức hỏng, phải xét riêng

  • $\vec{n}=\vec{0}$ không xác định mặt phẳng nào. Bài cho ba điểm mà ba điểm đó thẳng hàng thì $\left[\vec{AB},\vec{AC}\right]=\vec{0}$: không có mặt phẳng duy nhất, có vô số. Phải kiểm trước khi viết đáp số.
  • Công thức $\dfrac{\left|D_1-D_2\right|}{\sqrt{A^2+B^2+C^2}}$ chỉ đúng khi hai mặt phẳng đã cùng bộ hệ số. Với $x+2y-2z+1=0$ và $2x+4y-4z-16=0$, áp thẳng sẽ cho $\dfrac{17}{3}$; đáp số đúng là $3$ sau khi rút gọn phương trình sau thành $x+2y-2z-8=0$.
  • Phương trình đoạn chắn $\dfrac{x}{a}+\dfrac{y}{b}+\dfrac{z}{c}=1$ hỏng khi mặt phẳng đi qua gốc toạ độ hoặc song song với một trục, vì lúc đó có một chắn bằng $0$ hoặc không tồn tại. Gặp trường hợp đó phải quay về dạng tổng quát.
  • Thiếu biến nào thì song song với trục đó. $(P): 2x-3y+6=0$ không phải “phương trình trong mặt phẳng” mà là mặt phẳng song song với trục $Oz$, vì $\vec{n}=(2;-3;0)$ vuông góc $\vec{k}$. Hiểu sai chỗ này là tính nhầm toàn bộ các bài vị trí tương đối.

Ví dụ mẫu có lời chữa

Ví dụ 1. Trong không gian $Oxyz$, viết phương trình mặt phẳng $(P)$ đi qua điểm $M(3;-1;2)$ và nhận $\vec{n}=(1;-2;4)$ làm vectơ pháp tuyến.
Bước 1 — nhận dạng dữ kiện

Đề cho đủ một điểmmột vectơ pháp tuyến — đây là trường hợp cơ bản nhất, thay thẳng vào khuôn $A(x-x_0)+B(y-y_0)+C(z-z_0)=0$ với $A=1$, $B=-2$, $C=4$ và $M(3;-1;2)$.

Mặt phẳng đi qua M(3;-1;2) với vectơ pháp tuyến (1;-2;4) cắm vuông gócM(3;−1;2)n = (1;−2;4)(P)(P): 1(x−3) − 2(y+1) + 4(z−2) = 0⇒ x − 2y + 4z − 13 = 0hệ số của x, y, z chính là toạ độ của n; hằng số −13 do điểm M quyết định
Vectơ $\vec{n}=(1;-2;4)$ cắm vuông góc với $(P)$ tại $M(3;-1;2)$ — hướng do $\vec{n}$ quyết định, vị trí do $M$ quyết định
Bước 2 — viết dạng chưa khai triển, giữ nguyên dấu

Vì $y_0=-1$ nên trong ngoặc phải là $y-(-1)=y+1$:

$$1\cdot(x-3)-2\cdot(y+1)+4\cdot(z-2)=0.$$
Bước 3 — khai triển và thu gọn$$x-3-2y-2+4z-8=0\ \Longleftrightarrow\ x-2y+4z-13=0.$$
Bước 4 — kiểm lại đáp số bằng hai phép thử

Thứ nhất, thay $M$ vào vế trái: $3-2\cdot(-1)+4\cdot 2-13=3+2+8-13=0$ — điểm $M$ thuộc $(P)$. Thứ hai, đọc lại hệ số của $x$, $y$, $z$: đúng bằng $(1;-2;4)$ — pháp tuyến đúng. Hai phép thử này khóa chặt cả hướng lẫn vị trí, không còn chỗ sai nào lọt qua.

Kết luận

$(P): x-2y+4z-13=0$.

Bẫy

Viết $y-1$ thay vì $y+1$ cho $x-2y+4z-9=0$; thay $M$ vào được $4\ne 0$ nên mặt phẳng đó không đi qua $M$. Đổi dấu hằng số thành $x-2y+4z+13=0$ thì ra một mặt phẳng song song, cách $(P)$ một khoảng $\dfrac{26}{\sqrt{21}}$ — vẫn đúng hướng nhưng sai vị trí.

Nếu đề đổi chỗ này

Đổi $\vec{n}$ thành $(2;-4;8)$ thì phương trình ra $2x-4y+8z-26=0$ — cùng một mặt phẳng, chỉ nhân đôi hai vế. Còn đổi điểm $M$ thành $M'(3;1;2)$ thì hằng số đổi thành $-9$: hướng giữ nguyên, mặt phẳng tịnh tiến đi.

Ví dụ 2. Trong không gian $Oxyz$, cho ba điểm $A(1;0;2)$, $B(2;1;0)$, $C(0;2;1)$. Viết phương trình mặt phẳng $(ABC)$.
Bước 1 — nhận dạng: ba điểm thì phải đi đường vòng qua tích có hướng

Ba điểm không thẳng hàng xác định một mặt phẳng, nhưng khuôn công thức vẫn đòi một vectơ pháp tuyến. Dựng hai vectơ nằm trong mặt phẳng rồi lấy tích có hướng:

$$\vec{AB}=(1;1;-2),\qquad \vec{AC}=(-1;2;-1).$$
Bước 2 — tính tích có hướng rồi rút gọn

Thành phần thứ nhất $1\cdot(-1)-(-2)\cdot 2=3$; thành phần thứ hai $(-2)\cdot(-1)-1\cdot(-1)=3$; thành phần thứ ba $1\cdot 2-1\cdot(-1)=3$.

$$\left[\vec{AB},\vec{AC}\right]=(3;3;3)\ \parallel\ (1;1;1)\ \Rightarrow\ \vec{n}=(1;1;1).$$

Được phép rút gọn vì pháp tuyến chỉ cần đúng hướng, không cần đúng độ dài.

Bước 3 — viết phương trình qua một đỉnh bất kì

Dùng $A(1;0;2)$:

$$(x-1)+(y-0)+(z-2)=0\ \Longleftrightarrow\ x+y+z-3=0.$$
Bước 4 — kiểm lại bằng cả ba điểm

$A: 1+0+2-3=0$; $B: 2+1+0-3=0$; $C: 0+2+1-3=0$. Cả ba đều thoả nên phương trình đúng. Phải thử đủ ba, vì thử mỗi điểm đã dùng để viết thì luôn đúng, không phát hiện được lỗi ở pháp tuyến.

Kết luận

$(ABC): x+y+z-3=0$.

Bẫy

Lấy luôn $\vec{AB}=(1;1;-2)$ làm pháp tuyến cho $x+y-2z+3=0$; thử $B$ được $2+1-0+3=6\ne 0$, sai lộ ngay. Sai dấu thành phần giữa của tích có hướng cho $\vec{n}=(3;-3;3)$ và phương trình $x-y+z-3=0$; điểm $C$ khi đó cho $0-2+1-3=-4\ne 0$.

Nếu đề đổi chỗ này

Đổi $C$ thành $C'(3;2;-2)$ thì $\vec{AC'}=(2;2;-4)=2\vec{AB}$, tích có hướng bằng $\vec{0}$: ba điểm thẳng hàng và không có mặt phẳng duy nhất. Đó là lý do phải nhìn tích có hướng trước khi viết đáp số.

Ví dụ 3. Trong không gian $Oxyz$, cho mặt phẳng $(P): 2x-2y+z+3=0$ và điểm $M(1;-2;1)$. Tính khoảng cách từ $M$ đến $(P)$, rồi viết phương trình mặt phẳng $(Q)$ đi qua $M$ và song song với $(P)$.
Bước 1 — tách đề thành hai việc độc lập

Việc một là tính khoảng cách từ một điểm tới mặt phẳng; việc hai là viết mặt phẳng song song đi qua chính điểm đó. Cả hai đều xoay quanh một đại lượng: vectơ pháp tuyến $\vec{n}=(2;-2;1)$ với $\left|\vec{n}\right|=3$.

Bước 2 — khoảng cách từ $M$ đến $(P)$$$d\left(M,(P)\right)=\dfrac{\left|2\cdot 1-2\cdot(-2)+1+3\right|}{\sqrt{2^2+(-2)^2+1^2}}=\dfrac{\left|2+4+1+3\right|}{\sqrt{9}}=\dfrac{10}{3}.$$

Mẫu số là căn của $9$, tức $3$, chứ không phải $9$.

Bước 3 — viết $(Q)$ song song với $(P)$

Song song thì chung pháp tuyến, nên $(Q): 2x-2y+z+m=0$. Thay $M(1;-2;1)$: $2+4+1+m=0$, suy ra $m=-7$. Vì $-7\ne 3$ nên $(Q)$ thật sự khác $(P)$ — nếu hai hằng số trùng nhau thì hai mặt phẳng trùng nhau, không phải song song.

Hai mặt phẳng song song (P) và (Q) cùng vectơ pháp tuyến, đoạn vuông góc MH dài 10/3M(1;−2;1)n = (2;−2;1)Hd = 10/3(Q): 2x−2y+z−7=0(P): 2x−2y+z+3=0hai mặt phẳng song song ⇒ chung một vectơ pháp tuyến
$(Q)$ song song với $(P)$ nên dùng chung vectơ pháp tuyến; đoạn $MH$ vuông góc với cả hai mặt phẳng và dài đúng $\dfrac{10}{3}$
Bước 4 — kiểm chéo bằng khoảng cách giữa hai mặt phẳng

Hai mặt phẳng đã cùng bộ hệ số $(2;-2;1)$ nên dùng được công thức rút gọn:

$$d\left((P),(Q)\right)=\dfrac{\left|3-(-7)\right|}{3}=\dfrac{10}{3},$$

trùng với kết quả ở bước 2 — đúng như phải thế, vì $M$ nằm trên $(Q)$.

Kết luận

$d\left(M,(P)\right)=\dfrac{10}{3}$ và $(Q): 2x-2y+z-7=0$.

Bẫy

Quên dấu căn ở mẫu cho $\dfrac{10}{9}$, nhỏ hơn đáp số đúng ba lần. Quên hằng số $+3$ khi thay điểm cho tử số $7$ và $d=\dfrac{7}{3}$. Ở phần hai, lấy $m=7$ (quên đổi dấu khi chuyển vế) cho $(Q'): 2x-2y+z+7=0$, mặt phẳng này không chứa $M$ và cách $(P)$ chỉ $\dfrac{4}{3}$.

Nếu đề đổi chỗ này

Nếu đề viết $(P)$ dưới dạng $4x-4y+2z+6=0$ (nhân đôi) thì khoảng cách không đổi, vẫn là $\dfrac{20}{6}=\dfrac{10}{3}$, vì cả tử và mẫu cùng nhân $2$. Nhưng nếu lấy hiệu hằng số $\left|6-(-7)\right|$ rồi chia $3$ thì ra $\dfrac{13}{3}$ — sai, vì hai phương trình chưa cùng bộ hệ số.

Lỗi hay gặp

Lỗi hay gặp ở chương này

  • Nhầm vectơ pháp tuyến với vectơ chỉ phương: thấy mặt phẳng đi qua hai điểm $A(1;0;2)$, $B(2;1;0)$ liền lấy luôn $\vec{AB}=(1;1;-2)$ làm pháp tuyến và viết $x+y-2z+3=0$. Thử điểm $B$ được $6\ne 0$: $\vec{AB}$ nằm trong mặt phẳng nên vuông góc với pháp tuyến, phải qua tích có hướng mới ra hướng đúng.
  • Đọc hằng số tự do $D$ vào vectơ pháp tuyến: từ $(P): 2x-3y+z-5=0$ ghi $\vec{n}=(2;-3;-5)$. Hậu quả cụ thể: mẫu số của công thức khoảng cách đổi từ $\sqrt{14}$ thành $\sqrt{38}$, mọi đáp số khoảng cách nhỏ đi khoảng $40\%$. Vectơ pháp tuyến chỉ gồm ba hệ số của $x$, $y$, $z$; $D$ quyết định vị trí chứ không quyết định hướng.
  • Quên chuẩn hoá dấu và hệ số khi so hai mặt phẳng: kết luận $x-2y+3z-4=0$ và $-2x+4y-6z+8=0$ song song, trong khi nhân phương trình đầu với $-2$ ra đúng phương trình sau nên chúng trùng nhau. Kết quả sai kéo theo: bài hỏi khoảng cách giữa hai mặt phẳng đáng lẽ $0$ thì lại ra một số dương.
  • Quên đổi dấu hằng số khi thay điểm: viết mặt phẳng qua $M(1;-2;3)$ với $\vec{n}=(3;1;-2)$ thành $3x+y-2z-5=0$ thay vì $3x+y-2z+5=0$. Thử lại: $3-2-6-5=-10\ne 0$, điểm $M$ không thuộc mặt phẳng vừa viết; hai mặt phẳng này song song và cách nhau $\dfrac{10}{\sqrt{14}}$.
  • Tính khoảng cách mà bỏ dấu căn ở mẫu: lấy $\dfrac{\left|Ax_M+By_M+Cz_M+D\right|}{A^2+B^2+C^2}$. Với $(P): 2x-2y+z+3=0$ và $M(1;-2;1)$, đáp số đúng là $\dfrac{10}{3}\approx 3{,}33$ nhưng cách tính sai cho $\dfrac{10}{9}\approx 1{,}11$ — nhỏ hơn đúng ba lần. Mẫu phải là $\left|\vec{n}\right|=3$.
  • Dùng công thức $\dfrac{\left|D_1-D_2\right|}{\sqrt{A^2+B^2+C^2}}$ cho hai mặt phẳng song song mà chưa đưa về cùng bộ hệ số: với $x+2y-2z+1=0$ và $2x+4y-4z-16=0$, áp thẳng cho $\dfrac{17}{3}\approx 5{,}67$ trong khi đáp số đúng là $3$ — sai gần gấp đôi. Phải rút gọn phương trình sau thành $x+2y-2z-8=0$ trước đã.
  • Viết phương trình mặt phẳng qua ba điểm mà không kiểm ba điểm đó có thẳng hàng không. Nếu $\left[\vec{AB},\vec{AC}\right]=\vec{0}$ thì không có mặt phẳng duy nhất mà có vô số; lúc đó mọi đáp số viết ra đều không bảo vệ được, dù thay ba điểm vào đều thoả.

17 câu bài tập của bài này

Vào làm bài tập →