Thi THPT · Môn Sinh học · Di truyền nhiễm sắc thể

Liên kết gene và hoán vị gene

Làm 17 câu bài tập tương tác → Các bài khác môn Sinh học

Học xong bài này bạn sẽ

Lý thuyết cần nắm

Mendel đúng, nhưng Mendel chỉ đúng khi mỗi cặp gene nằm trên một cặp nhiễm sắc thể riêng. Một loài có hàng vạn gene mà chỉ có vài chục cặp nhiễm sắc thể, nên phần lớn các gene buộc phải chen chúc trên cùng một chiếc. Khi đó chúng không còn phân li độc lập nữa: chúng đi theo nhau. Bài này học cách viết giao tử và tính tỉ lệ đời con trong tình huống đó.

1. Liên kết gene hoàn toàn

Các gene nằm trên cùng một nhiễm sắc thể tạo thành một nhóm gene liên kết. Số nhóm gene liên kết của một loài bằng số nhiễm sắc thể trong bộ đơn bội n. Nếu trong giảm phân không xảy ra trao đổi chéo giữa hai gene thì chúng liên kết hoàn toàn: nhiễm sắc thể đi nguyên vẹn về giao tử.

  • Cơ thể AB/ab cho hai loại giao tử AB và ab, mỗi loại chiếm 50%.
  • Cơ thể Ab/aB cho hai loại giao tử Ab và aB, mỗi loại chiếm 50%.

Hai kiểu gene trên tuy cùng dị hợp về hai cặp gene nhưng cho hai bộ giao tử hoàn toàn khác nhau. Đây là chỗ phải đọc kỹ đề: AB/ab là dị hợp tử đều, còn Ab/aB là dị hợp tử chéo.

Ý nghĩa của liên kết hoàn toàn là hạn chế biến dị tổ hợp, giữ nguyên vẹn từng nhóm tính trạng quý qua các thế hệ. Nhà chọn giống dựa vào đó để giữ ổn định một giống tốt đã tạo được.

2. Hoán vị gene và tần số hoán vị f

Ở kì đầu giảm phân I, hai chromatid không chị em của cặp tương đồng có thể bắt chéo và trao đổi đoạn cho nhau. Nếu điểm trao đổi nằm giữa hai gene đang xét thì hai gene đổi chỗ, sinh ra giao tử hoán vị bên cạnh giao tử liên kết.

Tần số hoán vị gene f bằng tổng tỉ lệ các loại giao tử hoán vị. Vì trao đổi chéo chỉ liên quan hai trong bốn chromatid nên dù mọi tế bào đều xảy ra trao đổi chéo thì cũng chỉ một nửa số giao tử là hoán vị. Do đó f không bao giờ vượt quá 50%; f càng lớn khi hai gene nằm càng xa nhau.

Quy tắc viết giao tử chỉ gồm hai dòng, thuộc là làm được gần hết bài tập của chương:

  • Hai loại giao tử liên kết giống hệt hai nhiễm sắc thể của bố mẹ, mỗi loại chiếm $\dfrac{1-f}{2}$.
  • Hai loại giao tử hoán vị là hai tổ hợp còn lại, mỗi loại chiếm $\dfrac{f}{2}$.
Tần số hoán vị fMỗi loại giao tử liên kếtMỗi loại giao tử hoán vịCơ thể AB/ab cho
0% (liên kết hoàn toàn)50%0%AB = ab = 50%
10%45%5%AB = ab = 45%; Ab = aB = 5%
20%40%10%AB = ab = 40%; Ab = aB = 10%
30%35%15%AB = ab = 35%; Ab = aB = 15%
40%30%20%AB = ab = 30%; Ab = aB = 20%
50%25%25%bốn loại đều 25%, giống hệt phân li độc lập

Với cơ thể Ab/aB thì bảng vẫn đúng, chỉ đổi vai: giao tử liên kết là Ab và aB, còn giao tử hoán vị là AB và ab. Nhớ nhầm chỗ này là sai toàn bộ bài, nên trước khi thay số hãy viết ra hai nhiễm sắc thể của cơ thể đem lai.

Trao đổi chéo ở kì đầu giảm phân I giữa hai chromatid không chị em của cặp nhiễm sắc thể tương đồng AB trên ab, và bốn loại giao tử sinh ra: hai giao tử liên kết AB và ab chiếm 40 phần trăm mỗi loại, hai giao tử hoán vị Ab và aB chiếm 10 phần trăm mỗi loại khi tần số hoán vị bằng 20 phần trămKì đầu giảm phân I — cặp NST tương đồng của cơ thể AB/abABABababNST từ bốNST từ mẹ2 chromatid chị em2 chromatid chị emđiểm bắt chéo nằm GIỮA hai gene,nhờ đó A và B tách được nhau raBốn loại giao tử khi tần số hoán vị f = 20%ABabAbaBAB — giao tử LIÊN KẾT 40%ab — giao tử LIÊN KẾT 40%Ab — giao tử HOÁN VỊ 10%aB — giao tử HOÁN VỊ 10%giống hệt NSTcủa bố mẹtổ hợp mớif = 10% + 10%
Trao đổi chéo và bốn loại giao tử của cùng một cơ thể AB/ab. Nhìn hình là thấy ngay hai điều hay bị nhớ sai: điểm bắt chéo phải nằm GIỮA hai gene mới sinh ra giao tử hoán vị, và f là TỔNG của hai loại hoán vị chứ không phải tỉ lệ của một loại.

Vì sao f không bao giờ vượt quá 50%. Mỗi cặp NST tương đồng ở kì đầu giảm phân I gồm bốn chromatid, nhưng một lần bắt chéo chỉ liên quan hai chromatid không chị em; hai chromatid còn lại đi nguyên vẹn về giao tử. Vậy ngay cả khi 100% số tế bào đều xảy ra trao đổi chéo giữa hai gene thì cũng chỉ một nửa số giao tử là hoán vị, tức $f=50\%$. Con số 50% không phải quy ước mà là trần cơ học — tính ra $f$ lớn hơn 50% nghĩa là đã lấy nhầm hai lớp kiểu hình chiếm số nhiều làm lớp hoán vị.

Hệ quả tinh tế: khi hai gene nằm quá xa nhau trên cùng một NST, $f$ tiến sát 50% và tỉ lệ bốn loại giao tử xấp xỉ bằng nhau — kết quả trông y hệt phân li độc lập. Nói cách khác, chỉ nhìn tỉ lệ đời con thì không phân biệt được “hai gene rất xa nhau trên cùng một NST” với “hai gene trên hai NST khác nhau”; phải dựa vào dữ kiện đề cho về vị trí gene.

3. Lai phân tích — cách đo f nhanh nhất

Cơ thể đồng hợp lặn ab/ab chỉ cho một loại giao tử ab, nên tỉ lệ kiểu hình đời con của phép lai phân tích chính là tỉ lệ giao tử của cơ thể dị hợp. Từ đó f bằng tổng tỉ lệ hai lớp kiểu hình chiếm số ít, và kiểu gene của cơ thể đem lai lộ ra ở hai lớp chiếm số nhiều.

4. Bản đồ di truyền

Khoảng cách giữa hai gene trên bản đồ đo bằng centimorgan (cM): 1 cM ứng với tần số hoán vị 1%. Nếu ba gene cùng nằm trên một nhiễm sắc thể thì khoảng cách giữa hai gene ngoài cùng gần bằng tổng hai khoảng cách thành phần, nhờ đó xác định được gene nào nằm giữa. Bản đồ di truyền giúp dự đoán trước tỉ lệ đời con và chọn cặp lai hợp lí, rút ngắn thời gian chọn giống.

5. Phân biệt với phân li độc lập qua tỉ lệ đời con

Phép lai hai cơ thể dị hợp hai cặp geneTỉ lệ kiểu hình đời conKết luận
AaBb × AaBb, hai cặp trên hai cặp nhiễm sắc thể khác nhau9 : 3 : 3 : 1Phân li độc lập
AB/ab × AB/ab, liên kết hoàn toàn3 : 1Liên kết hoàn toàn, dị hợp đều
Ab/aB × Ab/aB, liên kết hoàn toàn1 : 2 : 1Liên kết hoàn toàn, dị hợp chéo
AB/ab × AB/ab, có hoán vị hai bên4 lớp kiểu hình nhưng khác 9 : 3 : 3 : 1Hoán vị gene

Một mẹo tính rất đáng thuộc cho phép lai hai cơ thể dị hợp có hoán vị: gọi x là tỉ lệ giao tử ab của mỗi bên, khi đó tỉ lệ kiểu hình lặn cả hai tính trạng bằng $x^2$, còn tỉ lệ kiểu hình trội cả hai tính trạng bằng $0{,}5 + x^2$. Hai lớp còn lại mỗi lớp bằng $0{,}25 - x^2$. Bốn công thức này thay được cả khung Punnett 16 ô.

6. Hoán vị chỉ xảy ra ở một giới — cái bẫy của ruồi giấm

Không phải loài nào cũng hoán vị ở cả hai giới. Ở ruồi giấm, trao đổi chéo chỉ xảy ra ở con cái; con đực liên kết hoàn toàn nên chỉ cho hai loại giao tử, mỗi loại 50%. Ở tằm thì ngược lại: hoán vị chỉ ở con đực.

Hệ quả khi làm bài: phải viết giao tử riêng cho từng bên rồi mới nhân, không được dùng chung một bộ tỉ lệ. Ví dụ phép lai giữa ruồi cái AB/ab có $f=20\%$ với ruồi đực AB/ab liên kết hoàn toàn:

Ruoi cai: AB = ab = 40% ; Ab = aB = 10% Ruoi duc: AB = ab = 50% ; khong co giao tu hoan vi

Tỉ lệ kiểu hình lặn cả hai tính trạng khi đó bằng $0{,}4\times 0{,}5=0{,}20$, chứ không phải $0{,}4\times 0{,}4=0{,}16$ như khi cả hai bên cùng hoán vị. Chỉ một chữ “ruồi giấm” trong đề mà đổi hẳn đáp số.

Ngược lại, quy tắc bù vẫn dùng được ở ví dụ này nếu hiểu đúng: quy tắc thật là trội cả hai bằng 0,5 cộng tỉ lệ lặn cả hai, đúng cho mọi phép lai mà cả hai bên đều dị hợp về hai cặp gene, bất kể hai bên có cùng $f$ hay không.

Ví dụ mẫu có lời chữa

Ví dụ 1. Cho hai cơ thể, cơ thể thứ nhất có kiểu gene AB/ab và cơ thể thứ hai có kiểu gene Ab/aB. Cả hai đều giảm phân với tần số hoán vị gene bằng 20%. Hãy viết các loại giao tử và tỉ lệ của mỗi loại ở từng cơ thể, rồi cho biết vì sao hai cơ thể này cho kết quả khác nhau.
Bước 1 — vẽ ra hai NST của từng cơ thể trước khi tính

Cơ thể thứ nhất AB/ab mang một NST chứa A và B, một NST chứa a và b — dị hợp tử đều. Cơ thể thứ hai Ab/aB mang một NST chứa A và b, một NST chứa a và B — dị hợp tử chéo. Bước này quyết định toàn bộ bài, vì giao tử liên kết luôn được định nghĩa theo cách hai allele đang đứng cùng nhau trên NST.

Trao đổi chéo ở kì đầu giảm phân I giữa hai chromatid không chị em của cặp nhiễm sắc thể tương đồng AB trên ab, và bốn loại giao tử sinh ra: hai giao tử liên kết AB và ab chiếm 40 phần trăm mỗi loại, hai giao tử hoán vị Ab và aB chiếm 10 phần trăm mỗi loại khi tần số hoán vị bằng 20 phần trămKì đầu giảm phân I — cặp NST tương đồng của cơ thể AB/abABABababNST từ bốNST từ mẹ2 chromatid chị em2 chromatid chị emđiểm bắt chéo nằm GIỮA hai gene,nhờ đó A và B tách được nhau raBốn loại giao tử khi tần số hoán vị f = 20%ABabAbaBAB — giao tử LIÊN KẾT 40%ab — giao tử LIÊN KẾT 40%Ab — giao tử HOÁN VỊ 10%aB — giao tử HOÁN VỊ 10%giống hệt NSTcủa bố mẹtổ hợp mớif = 10% + 10%
Hình vẽ cho cơ thể AB/ab. Với cơ thể Ab/aB thì bốn thanh vẫn thế, chỉ đổi vai: hai giao tử chiếm 40% là Ab và aB, còn AB và ab tụt xuống 10%.
Bước 2 — áp công thức chia đôi

Mỗi loại giao tử liên kết chiếm $\dfrac{1-f}{2}$, mỗi loại giao tử hoán vị chiếm $\dfrac{f}{2}$. Với $f=20\%$:

$$\dfrac{100\%-20\%}{2}=40\%,\qquad \dfrac{20\%}{2}=10\%.$$

Tức mỗi loại giao tử liên kết chiếm 40%, mỗi loại giao tử hoán vị chiếm 10%.

Bước 3 — thay vào từng cơ thể
Co the AB/ab : AB = ab = 40% | Ab = aB = 10% Co the Ab/aB : Ab = aB = 40% | AB = ab = 10%
Bước 4 — trả lời câu hỏi cuối

Hai cơ thể có cùng $f$ nên hai con số 40 và 10 giống nhau, nhưng vai của các loại giao tử đảo ngược: loại chiếm ưu thế ở cơ thể này lại là loại hiếm ở cơ thể kia. Nguyên nhân là giao tử liên kết được xác định theo cách hai allele đang đứng cùng nhau trên một NST của cơ thể đem lai, chứ không theo hình thức chữ viết của kiểu gene.

Bước 5 — kiểm tra lại

Tổng bốn loại giao tử của mỗi cơ thể: $40+40+10+10=100\%$. Kiểm thêm một lớp nữa: tổng hai loại hoán vị bằng $10+10=20\%$, đúng bằng $f$ đề cho. Hai phép kiểm này bắt được cả lỗi chia nhầm lẫn lỗi gán nhầm vai.

Kết luận

AB/ab cho AB = ab = 40% và Ab = aB = 10%. Ab/aB cho Ab = aB = 40% và AB = ab = 10%. Cùng $f$ nhưng hai bộ giao tử ngược vai nhau.

Bẫy

Mặc định AB là loại giao tử nhiều nhất ở mọi cơ thể dị hợp hai cặp gene. Với cơ thể Ab/aB thì AB chỉ chiếm 10%, tức nhầm chỗ này là sai một nửa số bài của chương. Bẫy thứ hai: lấy luôn $f=20\%$ làm tỉ lệ của một loại giao tử hoán vị; $f$ là TỔNG của hai loại, mỗi loại chỉ 10%.

Ví dụ 2. Ở một loài đậu, người ta tiến hành lai phân tích một cây dị hợp tử đều mang kiểu gene AB/ab, biết tần số hoán vị gene bằng 36%. Hãy lập bảng tổ hợp giao tử và xác định tỉ lệ của bốn loại kiểu hình ở đời con. Mỗi gene quy định một tính trạng, trội hoàn toàn.
Bước 1 — viết giao tử của cả hai bên

Cây AB/ab với $f=36\%$ cho giao tử liên kết $AB=ab=\dfrac{100-36}{2}=32\%$ và giao tử hoán vị $Ab=aB=\dfrac{36}{2}=18\%$. Cây dùng để lai phân tích có kiểu gene ab/ab nên chỉ cho một loại giao tử ab chiếm 100%.

Bước 2 — lập bảng tổ hợp

Một bên chỉ có một loại giao tử nên bảng chỉ có một hàng và bốn cột:

Giao tu cay di hop : AB 32% ab 32% Ab 18% aB 18% Giao tu cay ab/ab : ab 100% Kieu gene doi con : AB/ab ab/ab Ab/ab aB/ab Ti le : 32% 32% 18% 18%
Bước 3 — chuyển kiểu gene sang kiểu hình
AB/ab -> troi ca hai tinh trang 32% ab/ab -> lan ca hai tinh trang 32% Ab/ab -> troi TT1, lan TT2 18% aB/ab -> lan TT1, troi TT2 18%

Vì cây ab/ab chỉ góp allele lặn nên kiểu hình đời con phơi bày thẳng loại giao tử của bên kia — đó là toàn bộ lý do người ta dùng lai phân tích để đo $f$.

Bước 4 — kiểm tra lại theo hai đường

Đường thứ nhất: tổng bốn lớp $32+32+18+18=100\%$. Đường thứ hai, chặt hơn: tổng hai lớp chiếm số ít bằng $18+18=36\%$, đúng bằng $f$ đề cho. Nếu tổng hai lớp ít lại lớn hơn 50% thì chắc chắn đã gán nhầm lớp nhiều thành lớp hoán vị.

Kết luận

Đời con có 4 lớp kiểu hình: trội – trội 32%, lặn – lặn 32%, trội – lặn 18%, lặn – trội 18%.

Bẫy

Dùng công thức $0{,}5+x^2$ cho bài này. Công thức đó chỉ đúng khi cả hai bên đều dị hợp hai cặp gene; ở lai phân tích, một bên là ab/ab nên tỉ lệ kiểu hình đời con bằng đúng tỉ lệ giao tử của bên dị hợp, không có 50% nào cả.

Ví dụ 3. Ở một loài cà chua, xét một cây dị hợp tử đều về hai cặp gene cùng nằm trên một cặp nhiễm sắc thể thường. Cho cây này tự thụ phấn, biết tần số hoán vị gene ở cả hai giới đều bằng 30%. Mỗi gene quy định một tính trạng, trội hoàn toàn. Hãy tính tỉ lệ cây mang kiểu hình lặn về cả hai tính trạng và tỉ lệ cây mang kiểu hình trội về cả hai tính trạng ở đời con.
Bước 1 — viết giao tử cho cả hai giới

Cây tự thụ phấn nên giao tử đực và giao tử cái có cùng bộ tỉ lệ. Với $f=30\%$ và cây dị hợp tử đều:

$$AB=ab=\dfrac{100-30}{2}=35\%,\qquad Ab=aB=\dfrac{30}{2}=15\%.$$
Bước 2 — lớp kiểu hình lặn cả hai tính trạng

Cây mang kiểu hình này bắt buộc có kiểu gene ab/ab, tức phải nhận giao tử ab từ cả hai phía:

$$0{,}35\times 0{,}35=0{,}1225=12{,}25\%.$$
Bước 3 — lớp kiểu hình trội cả hai tính trạng

Dùng quy tắc bù: với phép lai mà cả hai bên đều dị hợp hai cặp gene, lớp trội cả hai luôn bằng 50% cộng lớp lặn cả hai.

$$50\%+12{,}25\%=62{,}25\%.$$
Bước 4 — hai lớp còn lại và phép kiểm tổng

Mỗi lớp trội một tính trạng, lặn tính trạng kia bằng $25\%-12{,}25\%=12{,}75\%$. Cộng cả bốn lớp:

troi - troi 62,25% lan - lan 12,25% troi - lan 12,75% lan - troi 12,75% Tong 100,00%
Bước 5 — kiểm tra lại bằng cách đối chiếu với phân li độc lập

Nếu hai gene phân li độc lập thì lớp lặn – lặn phải bằng $\dfrac{1}{4}\times\dfrac{1}{4}=6{,}25\%$ và lớp trội – trội bằng $56{,}25\%$. Kết quả của bài lớn hơn hẳn hai con số đó, đúng như dự đoán: cơ thể dị hợp tử đều có $f<50\%$ thì giao tử ab nhiều hơn 25%, nên lớp lặn – lặn phải nhiều hơn 6,25%. Số liệu đi đúng hướng lý thuyết là một dấu hiệu tin cậy.

Kết luận

Lặn cả hai tính trạng: $12{,}25\%$. Trội cả hai tính trạng: $62{,}25\%$.

Bẫy

Áp tỉ lệ 9 : 3 : 3 : 1 vì thấy “hai cặp tính trạng, hai bên đều dị hợp”. Hai gene ở đây cùng nằm trên một cặp NST nên tỉ lệ hoàn toàn khác: 62,25 : 12,75 : 12,75 : 12,25. Đọc kỹ câu “cùng nằm trên một cặp nhiễm sắc thể” trước khi chọn công thức.

Ví dụ 4. Ở ruồi giấm, hai cặp gene cùng nằm trên một cặp nhiễm sắc thể thường, mỗi gene quy định một tính trạng và trội hoàn toàn. Cho ruồi cái có kiểu gene AB/ab lai với ruồi đực cũng có kiểu gene AB/ab. Biết ở ruồi cái tần số hoán vị gene bằng 20 phần trăm, còn ở ruồi đực các gene liên kết hoàn toàn. Hãy tính tỉ lệ ruồi mang kiểu hình lặn về cả hai tính trạng và tỉ lệ ruồi mang kiểu hình trội về cả hai tính trạng ở đời con.
Bước 1 — nhận ra hai bên KHÔNG cùng một bộ giao tử

Đề nói rõ ruồi đực liên kết hoàn toàn. Ở ruồi giấm, trao đổi chéo chỉ xảy ra ở con cái — đây là đặc điểm phải nhớ, và nó buộc ta viết giao tử riêng cho từng bên thay vì dùng chung một bộ tỉ lệ.

Bước 2 — viết giao tử từng bên
Ruoi cai AB/ab, f = 20% : AB = ab = 40% ; Ab = aB = 10% Ruoi duc AB/ab, f = 0 : AB = ab = 50% ; khong co giao tu hoan vi
Bước 3 — lớp lặn cả hai tính trạng

Ruồi có kiểu hình lặn cả hai phải mang kiểu gene ab/ab, tức nhận giao tử ab từ cả hai bên:

$$0{,}40\times 0{,}50=0{,}20=20\%.$$
Bước 4 — lớp trội cả hai tính trạng

Cả hai bên đều dị hợp về hai cặp gene nên quy tắc bù vẫn dùng được: lớp trội cả hai bằng 50% cộng lớp lặn cả hai.

$$50\%+20\%=70\%.$$
Bước 5 — kiểm tra lại bằng hai lớp còn lại

Mỗi lớp còn lại bằng $25\%-20\%=5\%$. Cộng bốn lớp: $70+20+5+5=100\%$. Ngoài ra có thể kiểm trực tiếp: lớp “trội tính trạng thứ nhất, lặn tính trạng thứ hai” chỉ sinh ra từ giao tử Ab của ruồi cái (10%) kết hợp giao tử ab của ruồi đực (50%), tức $0{,}10\times 0{,}50=5\%$ — khớp.

Kết luận

Lặn cả hai tính trạng: $20\%$. Trội cả hai tính trạng: $70\%$.

Bẫy

Dùng chung $f=20\%$ cho cả hai giới rồi tính $0{,}4\times 0{,}4=16\%$ cho lớp lặn – lặn và $66\%$ cho lớp trội – trội. Cả hai con số đều sai vì ruồi đực không hoán vị. Cứ thấy chữ “ruồi giấm” trong đề là phải kiểm ngay xem đề đang cho hoán vị ở giới nào.

Lỗi hay gặp

Lỗi hay gặp ở chương này

  • Nhầm tần số hoán vị f với tỉ lệ của MỘT loại giao tử hoán vị. Với f bằng 20 phần trăm thì Ab bằng aB bằng 10 phần trăm, không phải 20; lấy nhầm thì giao tử liên kết cũng bị tính thành 30 phần trăm thay vì 40, và mọi con số phía sau đều lệch.
  • Quên rằng f không vượt quá 50 phần trăm. Trao đổi chéo chỉ liên quan hai trong bốn chromatid nên giao tử hoán vị nhiều nhất cũng chỉ đạt một nửa. Tính ra f bằng 64 phần trăm nghĩa là đã lấy hai lớp kiểu hình chiếm số NHIỀU làm lớp hoán vị; đáp số đúng khi ấy là 100 trừ 64 bằng 36 phần trăm.
  • Mặc định AB là giao tử nhiều nhất. Cơ thể AB/ab cho AB bằng ab bằng 40 phần trăm, nhưng cơ thể Ab/aB thì AB chỉ còn 10 phần trăm; nhầm chỗ này là sai một nửa số bài của chương.
  • Áp tỉ lệ 9 : 3 : 3 : 1 cho phép lai hai cơ thể dị hợp mà không kiểm vị trí gene. Nếu hai gene cùng nằm trên một cặp NST, phép lai AB/ab × AB/ab với f bằng 30 phần trăm cho 62,25 : 12,75 : 12,75 : 12,25 chứ không phải 56,25 : 18,75 : 18,75 : 6,25 như phân li độc lập.
  • Dùng công thức 50 phần trăm cộng tỉ lệ lặn cả hai cho phép lai phân tích. Công thức chỉ đúng khi CẢ HAI bên đều dị hợp về hai cặp gene; ở lai phân tích, tỉ lệ kiểu hình đời con bằng đúng tỉ lệ giao tử của cơ thể dị hợp, chẳng hạn 32 : 32 : 18 : 18 với f bằng 36 phần trăm.
  • Cho rằng loài nào cũng hoán vị ở cả hai giới. Ở ruồi giấm chỉ con cái hoán vị, con đực liên kết hoàn toàn: phép lai AB/ab × AB/ab với f bằng 20 phần trăm ở con cái cho lớp lặn – lặn bằng 0,40 × 0,50 = 20 phần trăm, chứ không phải 0,40 × 0,40 = 16 phần trăm.
  • Quên rằng điểm bắt chéo phải nằm GIỮA hai gene mới sinh ra giao tử hoán vị. Trao đổi chéo xảy ra ở đoạn ngoài khoảng giữa hai gene thì hai gene vẫn đi cùng nhau, giao tử vẫn là giao tử liên kết — đó cũng là lý do hai gene càng gần nhau thì f càng nhỏ.

17 câu bài tập của bài này

Vào làm bài tập →