Thi THPT · Môn Sinh học · Di truyền nhiễm sắc thể

Quy luật Mendel và bài tập lai

Làm 17 câu bài tập tương tác → Các bài khác môn Sinh học

Học xong bài này bạn sẽ

Lý thuyết cần nắm

Mendel không có kính hiển vi điện tử, không biết gene là gì, nhưng ông làm được điều mà cả thế kỉ trước đó chưa ai làm: đếm. Toàn bộ chương này chỉ là hệ quả của một ý tưởng — mỗi tính trạng do một cặp nhân tố di truyền quy định, và cặp đó tách nhau ra khi tạo giao tử.

1. Quy luật phân li

Mỗi tính trạng do một cặp allele quy định. Khi giảm phân, hai allele của cặp phân li đồng đều về hai giao tử, nên mỗi giao tử chỉ mang một allele của cặp. Hệ quả trực tiếp về cách viết giao tử:

  • Cơ thể đồng hợp AA cho một loại giao tử A; cơ thể aa cho một loại giao tử a.
  • Cơ thể dị hợp Aa cho hai loại giao tử A và a với tỉ lệ 1 : 1, tức mỗi loại chiếm $\dfrac{1}{2}$.

Khi trội hoàn toàn, kiểu gene AA và Aa cho cùng một kiểu hình. Vì thế kiểu hình trội không nói lên kiểu gene — đây là gốc của gần như mọi bài tập lai.

2. Khung Punnett của phép lai một cặp tính trạng

Khung Punnett là bảng nhân giao tử của bố với giao tử của mẹ. Với phép lai Aa × Aa:

Giao tửA ($\dfrac{1}{2}$)a ($\dfrac{1}{2}$)
A ($\dfrac{1}{2}$)AA ($\dfrac{1}{4}$)Aa ($\dfrac{1}{4}$)
a ($\dfrac{1}{2}$)Aa ($\dfrac{1}{4}$)aa ($\dfrac{1}{4}$)

Đọc bảng: kiểu gene ra 1 AA : 2 Aa : 1 aa; kiểu hình (trội hoàn toàn) ra 3 trội : 1 lặn. Bốn phép lai cơ bản cần thuộc như bảng cửu chương:

Phép laiTỉ lệ kiểu gene đời conTỉ lệ kiểu hình đời con
AA × AA100% AA100% trội
AA × Aa1 AA : 1 Aa100% trội
AA × aa100% Aa100% trội
Aa × Aa1 AA : 2 Aa : 1 aa3 trội : 1 lặn
Aa × aa1 Aa : 1 aa1 trội : 1 lặn
aa × aa100% aa100% lặn
Khung Punnett của phép lai Aa nhân Aa: hàng và cột là giao tử A và a, bốn ô trong bảng là AA, Aa, Aa, aa; ba ô cho kiểu hình trội được tô nền, ô aa cho kiểu hình lặn để trắngKhung Punnett — phép lai Aa × AaGiao tửA (1/2)a (1/2)A (1/2)a (1/2)AA1/4Aa1/4Aa1/4aa1/4Kiểu gene: 1 AA : 2 Aa : 1 aaKiểu hình: 3 trội : 1 lặnBa ô tô nền là kiểu hình TRỘI (hoa đỏ);ô trắng aa là kiểu hình LẶN (hoa trắng).Trong riêng nhóm hoa đỏ có 1 AA và 2 Aa,nên cây thuần chủng chiếm 1/3 chứ khôngphải 1/4 — đề rất hay hỏi đúng chỗ này.Tỉ lệ kiểu gene 1 : 2 : 1 và tỉ lệ kiểu hình3 : 1 là hai câu trả lời KHÁC nhau củacùng một phép lai.
Khung Punnett của Aa × Aa. Bảng này trả lời cùng lúc hai câu hỏi khác nhau: đọc theo ô là tỉ lệ kiểu gene 1 : 2 : 1, gộp theo màu là tỉ lệ kiểu hình 3 : 1.

Cơ sở tế bào học của quy luật phân li. Cặp allele A và a nằm trên một cặp NST tương đồng. Ở kì sau giảm phân I, hai chiếc của cặp NST đó đi về hai cực khác nhau, kéo theo hai allele tách nhau ra — đó chính là “phân li đồng đều” mà Mendel suy ra bằng cách đếm mà chưa nhìn thấy. Hiểu theo hướng này thì quy luật phân li không phải điều phải học thuộc: nó là hệ quả bắt buộc của cách NST vận động trong giảm phân.

3. Phép lai phân tích

Muốn biết một cá thể mang kiểu hình trội là AA hay Aa, ta lai nó với cá thể đồng hợp lặn aa. Vì aa chỉ cho một loại giao tử a nên kiểu hình đời con phơi bày thẳng giao tử của bên kia:

  • Đời con đồng loạt mang kiểu hình trội ⟹ cá thể đem lai là AA.
  • Đời con phân li 1 trội : 1 lặn ⟹ cá thể đem lai là Aa.

4. Quy luật phân li độc lập

Khi hai cặp gene nằm trên hai cặp nhiễm sắc thể tương đồng khác nhau, sự phân li của cặp này không phụ thuộc cặp kia. Cơ thể AaBb do đó cho $2\times 2=4$ loại giao tử AB, Ab, aB, ab với tỉ lệ bằng nhau. Tổng quát, cơ thể dị hợp $n$ cặp gene phân li độc lập cho $2^n$ loại giao tử.

Phép lai AaBb × AaBb cho đời con 9 loại kiểu gene và 4 loại kiểu hình theo tỉ lệ 9 : 3 : 3 : 1. Phép lai phân tích AaBb × aabb cho 4 loại kiểu hình tỉ lệ 1 : 1 : 1 : 1.

Khung Punnett mười sáu ô của phép lai AaBb nhân AaBb: ba ô tô đỏ là kiểu hình quả đỏ quả dài, hai ô tô xanh là kiểu gene AaBBKhung Punnett 16 ô — phép lai AaBb × AaBb (hai cặp gene phân li độc lập)ABAbaBabABAbaBab1/4 mỗiAABBAABbAaBBAaBbAABbAAbbAaBbAabbAaBBAaBbaaBBaaBbAaBbAabbaaBbaabb3 ô quả đỏ, quả dài = 3/162 ô kiểu gene AaBB = 2/16 = 1/8Kẻ đủ 16 ô thì đúng nhưng chậm;nhân xác suất cho cùng kết quảtrong vài giây — bảng chỉ để kiểm.
Cùng một phép lai AaBb × AaBb: bảng 16 ô cho thấy vì sao nhân xác suất lại ra 3/16 và 1/8. Ba ô đỏ là quả đỏ – quả dài, hai ô xanh là kiểu gene AaBB.

5. Tính nhanh bằng nhân xác suất — công cụ mạnh nhất của chương

Khi các cặp gene phân li độc lập, xét riêng từng cặp rồi nhân kết quả lại. Đây là cách duy nhất làm kịp giờ với bài ba, bốn cặp gene, vì kẻ khung Punnett cho ba cặp là bảng $8\times 8$ với 64 ô.

Phép lai một cặpTỉ lệ trội ở đời conTỉ lệ lặn ở đời conTỉ lệ dị hợp
Aa × Aa$\dfrac{3}{4}$$\dfrac{1}{4}$$\dfrac{1}{2}$
Aa × aa$\dfrac{1}{2}$$\dfrac{1}{2}$$\dfrac{1}{2}$
Aa × AA$1$$0$$\dfrac{1}{2}$

Ví dụ: ở phép lai AaBbDd × AabbDd, tỉ lệ đời con trội cả ba tính trạng là $\dfrac{3}{4}\times\dfrac{1}{2}\times\dfrac{3}{4}=\dfrac{9}{32}$. Ba thừa số ứng với ba cặp, không được bỏ sót cặp nào — quên nhân một thừa số là sai ngay.

Một dạng hỏi rất hay gặp là xác suất có điều kiện trá hình: “trong số các cây hoa đỏ, cây thuần chủng chiếm bao nhiêu”. Lúc này mẫu số không còn là toàn bộ đời con mà chỉ là nhóm hoa đỏ. Với phép lai Aa × Aa, nhóm hoa đỏ gồm 1 AA và 2 Aa nên tỉ lệ thuần chủng là $\dfrac{1}{3}$, không phải $\dfrac{1}{4}$.

6. Khi nào tỉ lệ 9 : 3 : 3 : 1 KHÔNG còn đúng

Tỉ lệ 9 : 3 : 3 : 1 chỉ ra đời khi thoả đủ bốn điều kiện: hai cặp gene nằm trên hai cặp NST khác nhau; mỗi gene quy định một tính trạng; trội hoàn toàn; và cả hai bố mẹ đều dị hợp hai cặp. Thiếu một điều kiện là tỉ lệ đổi khác, và đề thường gài đúng ở chỗ đó:

  • Hai cặp gene cùng nằm trên một cặp NST (liên kết gene). Chúng không còn phân li độc lập nên số loại giao tử tụt từ 4 xuống 2. Phép lai AB/ab × AB/ab liên kết hoàn toàn cho tỉ lệ kiểu hình 3 : 1, còn Ab/aB × Ab/aB cho 1 : 2 : 1 — không có bóng dáng nào của 9 : 3 : 3 : 1. Đây là lý do trước khi áp tỉ lệ phải đọc xem đề có nói “hai cặp NST tương đồng khác nhau” hay không.
  • Trội không hoàn toàn. Kiểu gene dị hợp cho kiểu hình trung gian, nên một cặp cho tỉ lệ 1 : 2 : 1 chứ không phải 3 : 1, và hai cặp cho 9 loại kiểu hình chứ không phải 4.
  • Hai cặp gene cùng quy định một tính trạng (tương tác gene). Bốn lớp của 9 : 3 : 3 : 1 gộp lại thành 9 : 7, 9 : 6 : 1 hay 13 : 3 tuỳ kiểu tương tác. Tổng vẫn là 16 phần — nhìn thấy mẫu số 16 mà chỉ có hai, ba lớp kiểu hình thì gần như chắc chắn là tương tác gene.

Mẹo kiểm tra chung: cộng các số của tỉ lệ đời con lại. Tổng bằng 16 thì bài vẫn nằm trong họ phân li độc lập hai cặp gene; tổng bằng 4 hoặc 8 thì phải nghĩ tới liên kết gene hoặc lai phân tích.

Ví dụ mẫu có lời chữa

Ví dụ 1. Ở đậu Hà Lan, allele A quy định hoa đỏ trội hoàn toàn so với allele a quy định hoa trắng. Cho cây hoa đỏ dị hợp tự thụ phấn thu được F1. Hãy viết giao tử, lập khung Punnett và xác định tỉ lệ kiểu gene, tỉ lệ kiểu hình ở F1.
Bước 1 — viết kiểu gene bố mẹ

Cây hoa đỏ dị hợp có kiểu gene Aa; tự thụ phấn nghĩa là phép lai P: Aa × Aa. Viết ra kiểu gene trước khi làm bất cứ phép tính nào là thói quen chống sai của cả chương.

Bước 2 — viết giao tử

Theo quy luật phân li, cặp allele Aa tách đôi khi giảm phân nên mỗi bên cho hai loại giao tử A và a với tỉ lệ $\dfrac{1}{2}:\dfrac{1}{2}$.

Bước 3 — lập khung Punnett

Hàng là giao tử của cây làm mẹ, cột là giao tử của cây làm bố; mỗi ô là tích của hai giao tử và chiếm $\dfrac{1}{2}\times\dfrac{1}{2}=\dfrac{1}{4}$.

Khung Punnett của phép lai Aa nhân Aa: hàng và cột là giao tử A và a, bốn ô trong bảng là AA, Aa, Aa, aa; ba ô cho kiểu hình trội được tô nền, ô aa cho kiểu hình lặn để trắngKhung Punnett — phép lai Aa × AaGiao tửA (1/2)a (1/2)A (1/2)a (1/2)AA1/4Aa1/4Aa1/4aa1/4Kiểu gene: 1 AA : 2 Aa : 1 aaKiểu hình: 3 trội : 1 lặnBa ô tô nền là kiểu hình TRỘI (hoa đỏ);ô trắng aa là kiểu hình LẶN (hoa trắng).Trong riêng nhóm hoa đỏ có 1 AA và 2 Aa,nên cây thuần chủng chiếm 1/3 chứ khôngphải 1/4 — đề rất hay hỏi đúng chỗ này.Tỉ lệ kiểu gene 1 : 2 : 1 và tỉ lệ kiểu hình3 : 1 là hai câu trả lời KHÁC nhau củacùng một phép lai.
Bốn ô của phép lai Aa × Aa. Ô nào ra kiểu gene nào, ô nào cho hoa đỏ — đọc thẳng trên bảng, không phải nhẩm.
Bước 4 — gộp ô cùng kiểu gene

AA chiếm $\dfrac{1}{4}$; Aa chiếm $\dfrac{2}{4}=\dfrac{1}{2}$; aa chiếm $\dfrac{1}{4}$. Tỉ lệ kiểu gene là 1 AA : 2 Aa : 1 aa.

Bước 5 — quy ra kiểu hình

Trội hoàn toàn nên AA và Aa đều cho hoa đỏ, chỉ aa cho hoa trắng. Tỉ lệ kiểu hình là 3 hoa đỏ : 1 hoa trắng.

Bước 6 — kiểm tra lại

Cộng tỉ lệ kiểu gene: $\dfrac{1}{4}+\dfrac{1}{2}+\dfrac{1}{4}=1$. Cộng tỉ lệ kiểu hình: $\dfrac{3}{4}+\dfrac{1}{4}=1$. Ngoài ra, tỉ lệ hoa trắng phải bằng tích hai giao tử a: $\dfrac{1}{2}\times\dfrac{1}{2}=\dfrac{1}{4}$, khớp với bảng. Ba phép kiểm này chỉ mất vài giây nhưng bắt được gần hết lỗi cộng nhầm.

Kết luận

F1 có tỉ lệ kiểu gene 1 AA : 2 Aa : 1 aa và tỉ lệ kiểu hình 3 hoa đỏ : 1 hoa trắng.

Bẫy

Đề hỏi kiểu hình mà trả lời 1 : 2 : 1 — tính đúng nhưng mất điểm. Bẫy thứ hai nằm ở câu hỏi tiếp theo mà đề rất hay nối vào: “trong số cây hoa đỏ, cây thuần chủng chiếm bao nhiêu”. Đáp án là $\dfrac{1}{3}$ (1 AA trong 3 phần hoa đỏ), không phải $\dfrac{1}{4}$.

Ví dụ 2. Ở một loài thực vật, allele A quy định quả đỏ trội hoàn toàn so với allele a quy định quả vàng; allele B quy định quả tròn trội hoàn toàn so với allele b quy định quả dài. Hai cặp gene nằm trên hai cặp nhiễm sắc thể thường khác nhau. Cho phép lai P: AaBb × AaBb. Tính tỉ lệ cây quả đỏ, quả dài ở đời con và tỉ lệ cây có kiểu gene AaBB.
Bước 1 — kiểm điều kiện trước khi tách bài toán

Đề nói rõ hai cặp gene nằm trên hai cặp NST khác nhau, nên chúng phân li độc lập. Chỉ khi có câu này ta mới được phép xét riêng từng cặp rồi nhân kết quả. Nếu đề nói hai gene cùng nằm trên một cặp NST thì toàn bộ cách làm dưới đây sai.

Bước 2 — xét riêng từng cặp
Cap 1: Aa x Aa -> 3/4 qua do (AA, Aa) ; 1/4 qua vang (aa) kieu gene: 1/4 AA : 1/2 Aa : 1/4 aa Cap 2: Bb x Bb -> 3/4 qua tron ; 1/4 qua dai kieu gene: 1/4 BB : 1/2 Bb : 1/4 bb
Bước 3 — yêu cầu thứ nhất: cây quả đỏ, quả dài

Lấy nhánh “đỏ” của cặp một nhân nhánh “dài” của cặp hai:

$$\dfrac{3}{4}\times\dfrac{1}{4}=\dfrac{3}{16}.$$
Bước 4 — yêu cầu thứ hai: kiểu gene AaBB

Câu này hỏi kiểu gene chứ không phải kiểu hình nên phải dùng tỉ lệ kiểu gene: Aa chiếm $\dfrac{1}{2}$, BB chiếm $\dfrac{1}{4}$.

$$\dfrac{1}{2}\times\dfrac{1}{4}=\dfrac{1}{8}.$$
Bước 5 — kiểm tra lại bằng khung Punnett đầy đủ

Kẻ đủ 16 ô để đối chiếu: đúng 3 ô cho quả đỏ – quả dài và đúng 2 ô mang kiểu gene AaBB.

Khung Punnett mười sáu ô của phép lai AaBb nhân AaBb: ba ô tô đỏ là kiểu hình quả đỏ quả dài, hai ô tô xanh là kiểu gene AaBBKhung Punnett 16 ô — phép lai AaBb × AaBb (hai cặp gene phân li độc lập)ABAbaBabABAbaBab1/4 mỗiAABBAABbAaBBAaBbAABbAAbbAaBbAabbAaBBAaBbaaBBaaBbAaBbAabbaaBbaabb3 ô quả đỏ, quả dài = 3/162 ô kiểu gene AaBB = 2/16 = 1/8Kẻ đủ 16 ô thì đúng nhưng chậm;nhân xác suất cho cùng kết quảtrong vài giây — bảng chỉ để kiểm.
Bảng 16 ô xác nhận hai con số vừa tính: 3/16 và 2/16 = 1/8. Cách nhân xác suất nhanh hơn nhiều, còn bảng dùng để kiểm khi chưa yên tâm.
Kết luận

Tỉ lệ cây quả đỏ, quả dài là $\dfrac{3}{16}$. Tỉ lệ cây có kiểu gene AaBB là $\dfrac{1}{8}$.

Bẫy

Dùng tỉ lệ kiểu hình $\dfrac{3}{4}$ cho câu hỏi về kiểu gene AaBB sẽ ra $\dfrac{3}{4}\times\dfrac{1}{4}=\dfrac{3}{16}$ — trùng đúng đáp án của câu hỏi thứ nhất, nên nhìn qua rất “có lý” mà vẫn sai. Hỏi kiểu gene thì dùng tỉ lệ kiểu gene, hỏi kiểu hình thì dùng tỉ lệ kiểu hình.

Ví dụ 3. Ở một loài động vật, allele A quy định lông đen trội hoàn toàn so với allele a quy định lông trắng. Một con đực lông đen được lai phân tích. Hãy nêu cách xác định kiểu gene của con đực đó, và tính xác suất để một cá thể lông đen ở đời con của phép lai Aa × Aa là cá thể thuần chủng.
Bước 1 — hiểu vì sao lai phân tích lại phơi bày được kiểu gene

Lai với cơ thể đồng hợp lặn aa. Vì aa chỉ cho một loại giao tử a, nên kiểu hình đời con phản ánh trực tiếp loại giao tử mà con đực đã cho — không có allele trội nào từ phía kia che lấp.

Bước 2 — hai khả năng và hai kết quả
Neu con duc AA: AA x aa -> 100% Aa -> dong loat long den Neu con duc Aa: Aa x aa -> 1 Aa : 1 aa -> 1 den : 1 trang

Vậy chỉ cần nhìn đời con có xuất hiện cá thể lông trắng hay không là kết luận được kiểu gene. Xuất hiện dù chỉ một cá thể lông trắng thì con đực chắc chắn là Aa.

Bước 3 — chuyển sang câu hỏi xác suất

Phép lai Aa × Aa cho đời con 1 AA : 2 Aa : 1 aa. Nhóm lông đen gồm 1 AA và 2 Aa, tổng cộng 3 phần.

Bước 4 — nhận ra đây là xác suất có điều kiện

Câu hỏi giới hạn không gian xét về riêng nhóm lông đen, nên mẫu số là 3 chứ không phải 4:

$$P=\dfrac{1}{3}.$$
Bước 5 — kiểm tra lại bằng cách đếm cá thể

Giả sử đời con có 400 cá thể: 100 AA, 200 Aa, 100 aa. Số cá thể lông đen là 300, trong đó thuần chủng 100, tức $\dfrac{100}{300}=\dfrac{1}{3}$. Đổi phân số sang số cá thể cụ thể là cách kiểm nhanh và gần như không bao giờ sai.

Kết luận

Lai phân tích: đời con đồng loạt lông đen thì con đực là AA, đời con phân li 1 : 1 thì con đực là Aa. Xác suất một cá thể lông đen là thuần chủng bằng $\dfrac{1}{3}$.

Bẫy

Trả lời $\dfrac{1}{4}$ là đã giải cho một câu hỏi khác — tỉ lệ AA trong toàn bộ đời con. Dấu hiệu nhận ra dạng có điều kiện: trong đề có cụm “trong số các cá thể…”, “biết rằng cá thể đó có kiểu hình…”. Gặp cụm đó là phải thu mẫu số lại.

Ví dụ 4. Ở người, bệnh bạch tạng do một allele lặn nằm trên nhiễm sắc thể thường quy định. Một cặp vợ chồng đều không bị bệnh nhưng mỗi người đều mang một allele gây bệnh. Hãy tính xác suất để cặp vợ chồng này sinh con đầu lòng bị bệnh; xác suất sinh hai người con đều không bị bệnh; và xác suất sinh ba người con trong đó có đúng một người bị bệnh.
Bước 1 — viết kiểu gene bố mẹ

Bệnh do allele lặn a; hai người không bị bệnh nhưng mỗi người mang một allele gây bệnh nên đều có kiểu gene Aa. Phép lai là Aa × Aa.

Bước 2 — xác suất cho MỘT đứa con

Đời con của Aa × Aa có tỉ lệ kiểu gene 1 AA : 2 Aa : 1 aa, nên với mỗi lần sinh:

Xác suất một đứa con bị bệnh (kiểu gene aa) là $\dfrac{1}{4}$; xác suất không bị bệnh (AA hoặc Aa) là $\dfrac{3}{4}$. Đây là hai con số gốc, mọi câu sau chỉ là ghép chúng lại.

Bước 3 — hai người con đều không bị bệnh

Hai lần sinh là hai sự kiện độc lập, nhân xác suất:

$$\left(\dfrac{3}{4}\right)^2=\dfrac{9}{16}.$$
Bước 4 — ba người con, đúng một người bị bệnh

Người bị bệnh có thể là con thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba, tức có 3 trật tự khác nhau; mỗi trật tự có xác suất $\dfrac{1}{4}\times\dfrac{3}{4}\times\dfrac{3}{4}$:

$$P=3\times\dfrac{1}{4}\times\left(\dfrac{3}{4}\right)^2=\dfrac{27}{64}.$$

Hệ số 3 là số cách chọn vị trí cho người bị bệnh — quên nó là câu trả lời nhỏ đi đúng ba lần.

Bước 5 — kiểm tra lại bằng tổng xác suất

Liệt kê đủ bốn khả năng của ba người con và cộng lại phải bằng 1:

0 nguoi benh : (3/4)^3 = 27/64 1 nguoi benh : 3 x (1/4)(3/4)^2 = 27/64 2 nguoi benh : 3 x (1/4)^2(3/4) = 9/64 3 nguoi benh : (1/4)^3 = 1/64 Tong = 64/64 = 1

Tổng bằng 1 nên bốn con số đều đúng. Đây là phép kiểm mạnh nhất của mọi bài xác suất phả hệ.

Kết luận

Con đầu lòng bị bệnh: $\dfrac{1}{4}$. Hai người con đều không bị bệnh: $\dfrac{9}{16}$. Ba người con có đúng một người bị bệnh: $\dfrac{27}{64}$.

Bẫy

Quên hệ số 3 và trả lời $\dfrac{9}{64}$ — đây là xác suất của một trật tự cụ thể (chẳng hạn đúng con đầu bị bệnh), không phải của tình huống “có đúng một người bị bệnh”. Bẫy thứ hai: nghĩ rằng đứa con trước đã bị bệnh thì đứa sau chắc chắn khoẻ; mỗi lần sinh là một sự kiện độc lập, xác suất vẫn là $\dfrac{1}{4}$.

Lỗi hay gặp

Lỗi hay gặp ở chương này

  • Nhầm tỉ lệ kiểu gene với tỉ lệ kiểu hình. Phép lai Aa × Aa cho kiểu gene 1 AA : 2 Aa : 1 aa nhưng kiểu hình chỉ 3 trội : 1 lặn; đề hỏi kiểu hình mà trả lời 1 : 2 : 1 là mất điểm dù tính đúng.
  • Lấy mẫu số là toàn bộ đời con khi đề đã thu hẹp nhóm. Câu “trong số các cây hoa đỏ, cây thuần chủng chiếm bao nhiêu” có đáp án 1/3 (1 AA trong 3 phần hoa đỏ) chứ không phải 1/4; hai con số này luôn được đặt cạnh nhau trong bốn phương án.
  • Dùng tỉ lệ kiểu hình để tính câu hỏi về kiểu gene. Tỉ lệ AaBB ở phép lai AaBb × AaBb là 1/2 × 1/4 = 1/8; nếu lấy 3/4 × 1/4 sẽ ra 3/16 — trùng đáp án của câu hỏi khác nên rất khó tự phát hiện.
  • Áp tỉ lệ 9 : 3 : 3 : 1 cho mọi phép lai hai cặp tính trạng. Tỉ lệ này chỉ đúng khi hai cặp gene nằm trên hai cặp NST khác nhau và cả hai bố mẹ đều dị hợp hai cặp; AaBb × aabb cho 1 : 1 : 1 : 1, AaBb × Aabb cho 3 : 3 : 1 : 1, còn nếu hai gene cùng nằm trên một cặp NST thì ra 3 : 1 hoặc 1 : 2 : 1.
  • Quên nhân đủ số thừa số khi lai nhiều cặp. Phép lai AaBbDd × AabbDd cho tỉ lệ trội cả ba tính trạng bằng 3/4 × 1/2 × 3/4 = 9/32; bỏ sót cặp thứ hai sẽ ra 9/16, tức gấp đôi đáp án đúng.
  • Viết giao tử của cơ thể AaBb thành AA, Bb hoặc Aa, Bb. Mỗi giao tử phải mang một allele của mỗi cặp, nên AaBb cho đúng bốn loại AB, Ab, aB, ab, mỗi loại 1/4.
  • Quên hệ số tổ hợp trong bài xác suất nhiều người con. Xác suất sinh ba người con có đúng một người bị bệnh là 3 × (1/4)(3/4)² = 27/64; bỏ hệ số 3 sẽ ra 9/64, tức nhỏ đi đúng ba lần.
  • Coi các lần sinh là phụ thuộc nhau: nghĩ đứa trước đã bị bệnh thì đứa sau chắc chắn khoẻ. Mỗi lần sinh là một sự kiện độc lập, xác suất bị bệnh vẫn là 1/4 ở mọi lần.

17 câu bài tập của bài này

Vào làm bài tập →